Ngược Về Thời Minh

Chương 234 : Hoàng đế ham chơi

Ngày đăng: 13:24 30/04/20


Hạ hoàng hậu khép đôi tay áo màu vàng thêu hoa văn rồng vào người, chiếc mũ phượng đính trân châu trên đầu khẽ đung đưa, đôi mày thanh tú dưới vầng trán trắng ngần hơi cau lại, thoáng hiện mấy nếp nhăn rất nhỏ. Phía sau bức màn màu xanh đậm vốn là một thiếu nữ ngũ quan tú lệ, thân hình yêu kiều, nhưng vẻ mặt nghiêm túc kia thì lại chẳng khác gì một người phụ nữ đã dạn dày phong sương.



Lưu Cẩn thấy nàng ta cố tỏ ra từng trải cũng chỉ dám cười thầm trong bụng, ngoài mặt thì rất mực cung kính hết mực tâu:



- Nương nương! Người là mẫu nghi thiên hạ, là tấm gương sáng của Lục cung, nếu các công chúa đều không giữ nghi lễ như vậy mà Nương nương lại không quản đến, sau này Hậu cung e cũng không dễ quản được nữa rồi.



Ôi! La Tường cũng là kẻ không hiểu chuyện, hiện hắn đang quản lý phủ Nội vụ mà làm việc lại vẫn lỗ mãng như cũ. Sao lại nói chuyện này với Nương nương cơ chứ? Khiến cho Nương nương dù có muốn làm bộ không biết mà buông tha cho bọn họ cũng không được nữa rồi.



Ngày đó Hạ hoàng hậu đã chứng kiến Dương Lăng đường hoàng mời hai vị công chúa đi du ngoạn mà lại chẳng buồn thỉnh ý của cô nàng. Đường đường là chủ Hậu cung, Hạ Hoàng hậu đã nổi giận trong lòng, nhưng khi chạy về cung kể lể với Thái hoàng thái hậu một hồi, Thái hoàng thái hậu lại đưa ví dụ Vạn quý phi phế Hoàng hậu ra mà khuyên bảo.



Tuy trong lòng căm phẫn, nhưng Hạ hoàng hậu nhớ đến việc Vạn quý phi xuất thân cung nữ, lại chẳng có chỗ dựa nào mà vẫn lật đổ được Hoàng hậu, nếu không phải bà ta tuổi tác quá lớn, khi đó Thái hậu kiên quyết không cho làm chủ Trung cung (trỏ nơi ở của Hoàng hậu), chỉ e bà ta đã được ngồi lên ghế Hoàng hậu rồi.



(Vạn quý phi sinh năm 1428 mất năm 1487, phi tử của Minh Hiến Tông, lớn hơn vua 19 tuổi.)



Hiện giờ Hoàng thượng bị con hồ ly tinh họ Đường mê hoặc đến thần hồn điên đảo, ả lại có một người biểu huynh đang nắm đại quyền. Tụ họp Tam cung lại gọi y vào trách mắng một phen thì cũng chẳng có gì là khó, nhưng thật sự động tới một thần tử Ngoại đình thì đâu phải là chuyện dễ dàng, do đó lòng báo thù của cô nàng cũng đã nhạt đi.



Nhưng lúc này nghe Lưu Cẩn nhắc đến, khuôn mặt cô nàng lập tức đỏ bừng, không nhịn được cất tiếng trách mắng:



- Có lúc nào bản cung phải giả bộ câm điếc kia chứ? Tuy nói là có chỉ ý của Hoàng thượng, nhưng không ngờ Dương Lăng lại dám chẳng để bản cung vào trong mắt, không thông báo cho bản cung và phủ Nội vụ mà đã dám đưa công chúa xuất cung, thực là hỗn láo, vốn phải phạt nặng mới được. Còn về hai vị công chúa…



Hạ hoàng hậu hơi khựng lại, do dự một chút. Hai vị công chúa là em ruột của đương kim Hoàng đế, là con đẻ của Thái hậu đương triều, nếu thật sự mình xử phạt nghiêm khắc, há chẳng phải bản thân mình sẽ đắc tội hết cả trong lẫn ngoài ư?



Lưu Cẩn thấy vậy thì bèn cười giả dối, thưa:



- Thực ra trong lòng lão nô hiểu hết. Nếu Nương nương không trừng phạt, sau này các vị công chúa, quý phi khác đều sẽ không chịu nghe theo hiệu lệnh, tự có chủ trương riêng, như thế Hậu cung này còn có luật lệ gì nữa chứ? Nhưng nếu trừng phạt nghiêm khắc, vậy lại sợ ảnh hưởng đến hòa khí trong cung. Nương nương thực đã phải khổ tâm quá!



Lão bước đến gần thêm một bước, thưa tiếp:



- Lão nô có một cách nhất cử lưỡng tiện, không biết Nương nương có muốn nghe không?



Đang cảm thấy khó xử, nghe vậy thì Hạ hoàng hậu cả mừng:




Nhã Các Tư có thân hình cao gầy. Ông ta gỡ chiếc thánh giá bằng bạc xuống, cởi chiếc áo dài màu đen ra, mặc áo rồi đeo thánh giá lên cho Hoàng đế. Cha cố Chính Đức trong bộ áo dài chấm đất chính thức bước lên vũ đài.



Nhã Các Tư chỉ dùng hai ngón tay để nhúng nước ban phúc, còn nước thánh của Chính Đức thì lại là dùng cả bàn tay. Thế rồi tất cả các thần tử, hai vị sứ thần ngoại quốc, ngay đến Dương Lăng và mấy nhà truyền giáo cũng không thoát, tất cả đều bị Chính Đức rửa mặt cho một phen rồi mới cả người ướt sũng bước vào đại giáo đường.



Thực ra giáo đường này tuy lớn nhưng cũng khá giản lậu, không có tượng điêu khắc đá, các bức bích họa và trang sức bằng vàng xán lạn như những giáo đường ở phương Tây. Chính Đức tràn đầy hưng phấn xem xong mọi thứ, bèn bước lên đài giảng đạo tuyên bố với mọi người:



- Cha cố Nhã… Các Tư? Cha cố Hỏa Giả Á Tam? Ừm ừm… Các vị từ vạn dặm xa xôi đến Đại Minh, trẫm rất vui mừng! Trong tương lai không xa trẫm sẽ lại chế tạo bảo thuyền có thể vượt qua vạn dặm đường biển, đến lúc đó các vị sẽ có thể ngồi thuyền trở về cố hương rồi, sau đó hãy đưa những người có lòng muốn tới Đại Minh ta tới đây, trẫm rất hoan nghênh!



Rồi hắn lại nói với hai vị sứ thần ngoại quốc:



- Hai vị sứ giả sau khi trở về có thể báo với quốc vương của mình: nước Nhật Bản đã phái sứ giả đến triều kiến, không lâu sau Đại Minh sẽ bỏ lệnh cấm biển; hơn nữa ngoài mấy loại hàng hóa mà triều đình hạn chế bán ra và mua vào, sẽ không có bất kỳ hạn chế gì khác, để cho dân gian tự do buôn bán qua lại.



Các vị có thể dặn dò quốc vương của mình sớm chuẩn bị sẵn, hãy chế tạo nhiều thuyền lớn một chút. Đại Minh ta không bài trừ di địch, người tới đều không cự tuyệt, người đi cũng không đuổi theo. Trăm sông cuối cùng đều đổ về biển rộng, Đại Minh ta cũng học theo cái lẽ này, phàm là quốc gia, khu vực, bộ tộc nào chịu triều cống, bất luận trước đây có hiềm khích hay không, ta đều tiếp nạp hết.



Phác Ân Hi nghe xong không khỏi chấn động. Hắn không ngờ lần này đến đây lại nghe được một sự thay đổi quốc sách lớn lao như thế. Triều Tiên và Đại Minh cách nhau rất gần, nếu Đại Minh bỏ lệnh cấm biển, lại cho phép dân chúng tự do thông thương, việc này sẽ có ảnh hưởng tới Triều Tiên lớn lao như thế nào chứ?



Để phù hợp với sự thay đổi này, nhất định nước Triều Tiên cũng phải thiết lập nha môn tương ứng, mau chóng tổ chức những đội buôn tương ứng, mau chóng giành lấy thị trường Đại Minh, sớm được chút nào thì cơ hội sẽ nhiều thêm chút ấy. Việc này nhất định phải lập tức thông báo với quốc vương.



Nguyễn Đại Hựu vốn đang suy nghĩ vu vơ cũng ý thức được tầm quan trọng của lời tuyên bố này, trong đầu lập tức xuất hiện suy nghĩ như Phác Ân Hi. Chính Đức lại kể đến những việc như nhập cây trồng của Tây Dương về, cải thiện sản lượng nông nghiệp, liên minh với Đóa Nhan Tam Vệ, mượn đất của bọn họ để nuôi chiến mã. Tuy hắn không nhắc đến chuyện phân hóa nội bộ Thát Đát nhằm sau đó tiến quân lên phía bắc, nhưng hùng tâm tráng chí trong lời nói của hắn đã thể hiện rõ ràng.



Thân là những nước phiên thuộc đời đời của Đại Minh, Phác Ân Hi và Nguyễn Đại Hựu đều chẳng hề lo Đại Minh hùng mạnh. Quốc gia của bọn họ đều nhỏ bé, chủ quốc càng hùng mạnh lợi ích mà bọn họ nhận được sẽ càng nhiều, do đó cả hai đều cảm thấy rất vui vẻ.



***



Chính Đức cùng quần thần nghe Nhã Các Tư giảng đạo mà cứ như vịt nghe sấm. Sau đó hắn bèn đi dạo khắp trong ngoài đại giáo đường một lượt, lại sai người thông báo cho bộ Lễ hằng tháng cần cung cấp một lượng củi gạo nhất định cho các vị cha cố, cuối cùng mới khởi giá rời đi.



Hoàng đế vừa khởi giá, hai vị sứ thần phiên quốc Phác Ân Hi và Nguyễn Đại Hựu cũng lập tức xin cáo từ, vội vã trở về chỗ ở do Hồng Lô Tự thu xếp cho bọn họ.



Phác Ân Hi trải một tờ giấy trắng ra, cất bút viết rằng: “Trung Tông đại vương: Thần phụng mệnh đến Đại Minh tìm hiểu tình hình, nay thấy Hoàng đế Đại Minh quyết không phải hạng hôn quân. Chỉ là tính hắn hiếu động tựa như đứa trẻ ương bướng, nhưng trong lòng lại có hoài bảo nắm cả thiên hạ, chí hướng không thể nói là không cao…”