Bạch Dạ Hành

Chương 13 : Chương XIII

Ngày đăng: 09:15 18/04/20


1



Vừa xuống khỏi xe buýt, vạt áo khoác đã bị gió hất tung

lên. Mãi đến hôm qua, thời tiết vẫn còn ấm áp, hôm nay lại đột nhiên trở lạnh. Không, chắc do nhiệt độ Tokyo thấp hơn ở Osaka, Sasagaki thầm

nghĩ.



Ông bước đi trên con đường đã trở nên quen thuộc, đúng bốn giờ chiều

thì đến được toà nhà cần đến, cũng gần sát với thời gian dự kiến. Mặc dù tốn chút thời gian vòng qua trung tâm mua sắm ở Shinjuki, nhưng nếu

không mua món quà đã được dặn, e rằng sẽ làm người ông muốn gặp phải

thất vọng.



Ông đi cầu thang lên tầng hai, đầu gối bên phải hơi nhức. Ông đã bắt

đầu cảm nhận sự thay đổi của các mùa qua mức độ đau đớn từ mấy năm trước rồi ấy nhỉ?



Sasagaki dừng chân trước một cánh cửa ở tầng hai. Trên cửa có dán

biển hiệu “Văn phòng thám tử Imaeda”, được lau chùi rất sạch sẽ. Có lẽ

người không biết nhất định sẽ ngỡ ngàng nơi này vẫn đang hoạt động bình

thường.



Sasagaki ấn nút trên thiết bị đàm thoại, cảm giác được trong phòng có tiếng động. Chắc chắn có người đứng ở sau cửa, đang nhìn qua mắt mèo

quan sát vị khách bên ngoài. Khoá mở ra, Sugawara Eri cười tươi tắn mở

cửa. “Bác vất vả quá, lần này hơi muộn nhỉ.”



“Mua cái này tốn chút thời gian.” Sasagaki đưa hộp bánh ga tô ra.



“Oa! Cảm ơn bác, cảm động quá đi mất!” Eri vui vẻ đưa hai tay đón lấy chiếc hộp, rồi mở ngay nắp ra xem thứ ở bên trong. “Bác mua hộ cháu

bánh anh đào thật ạ?”



“Tốn bao nhiêu thời gian mới tìm thấy cửa hàng này đấy. Các cô gái

khác cũng mua loại bánh giống thế này. Nhưng tôi trông có vẻ cũng chẳng

ngon cho lắm.”



“Năm nay bánh anh đào đang được chuộng mà, đều tại cái phim Twin Peaks của Mỹ ấy.”



“Thế thì tôi không hiểu được rồi, bánh ga tô mà cũng có chuộng với

không chuộng à? Cách đây không lâu không phải mới thịnh hành tiramisu gì đó sao, thật không sao hiểu nổi suy nghĩ của các cô gái.”



“Bác không phải hiểu mấy thứ này làm gì. Được rồi, cháu ăn luôn đây. Bác có muốn ăn một chút không? Cháu pha cà phê rồi đấy.”



“Bánh thì khỏi cần, nhưng cà phê thì được.”



“Không thành vấn đề!” Eri hoạt bát trả lời, đi vào trong bếp.



Sasagaki cởi áo khoác, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Bày biện trong

phòng gần như giống hệt lúc Imaeda Naomi còn làm dịch vụ thám tử. Giá

sách bằng sắt và tủ hồ sơ được để nguyên không đụng đến. Chỉ khác là có

thêm một chiếc ti vi, một vài chỗ bày mấy món đồ theo sở thích con gái.

Tất cả đều là của Eri.



“Lần này bác định ở mấy ngày thế?” Eri vừa cầm bình pha cà phê vừa hỏi.



“Vẫn chưa quyết định được, chắc khoảng ba, bốn ngày gì đấy. Tôi không thể xa nhà lâu hơn được.”



“Lo cho bác gái ở nhà ạ?”



“Bà ấy thì cũng chẳng có gì mà phải lo.”



“Bác nói vậy mà được sao? Nhưng mà, có ba bốn ngày thì cũng chẳng làm được gì nhiều nhỉ?”



“Đúng vậy, nhưng cũng chẳng có cách nào khác.”



Sasagaki lấy bao Seven Stars ra, đánh diêm châm một điếu. Trên bàn

làm việc của Imaeda có một cái gạt tàn bằng tuỷ tinh, ông ném que diêm

cháy dở vào trong đó. Mặt bàn làm việc bằng sắt được lau chùi sạch bóng. Imaeda trở về là có thể bắt đầu làm việc ngay được. Chỉ có điều, tờ

lịch trên bàn vẫn dừng lại ở tháng Tám năm ngoái. Đó là thời điểm anh ta mất tích. Đến giờ đã một năm ba tháng rồi.



Sasagaki liếc nhìn Eri. Cô mặc quần bò, vừa cắt bánh anh đào vừa giẫm chân theo nhịp ư ử hát. Trông cô lúc nào cũng lạc quan thoải mái như

thế, nhưng cứ nghĩ đến nỗi buồn và lo lắng trong lòng cô, ông lại thấy

xót xa. Cô không thể nào không xác định về cái chết của Imaeda.



Sasagaki gặp Eri vào khoảng thời gian này năm ngoái. Ông muốn biết

xem quanh Imaeda có thay đổi gì không, bèn đến văn phòng thám tử kiểm

tra, liền thấy một cô gái trẻ lạ mặt sống ở đây, cô gái ấy chính là Eri.



Mới đầu cô rất cảnh giác với Sasagaki, nhưng khi biết được ông là

cảnh sát và còn từng gặp Imaeda trước khi anh ta mất tích, bèn dần dần

mở lòng với ông.



Tuy Eri không nói rõ, nhưng dường như cô và Imaeda có quan hệ yêu

đương, ít nhất thì cô cũng đã coi anh ta là đối tượng của mình. Vì vậy,

cô đã ra sức tìm kiếm tung tích của Imaeda theo cách của mình. Sở dĩ cô

trả lại căn hộ của mình để dọn đến văn phòng thám tử, cũng vì sợ nơi này bị thu hồi sẽ mất hết mọi đầu mối. Sống ở đây, cô có thể kiểm tra thư

từ gửi đến cho Imaeda, cũng có thể gặp những người đến tìm anh ta. May

sao chủ nhà không hề phản đối việc cô ở lại đây. Khách thuê mất tích,

người ta cũng không thể bỏ mặc căn nhà ở đó, đồng ý cho cô dọn vào ở,

hẳn cũng là thuận nước đẩy thuyền thôi.



Sau khi quen biết Eri, mỗi lần đến Tokyo, Sasagaki đều tiện thể ghé

thăm cô. Cô cũng cho ông biết về đường sá và những thứ gì đang thịnh

hành ở Tokyo, trợ giúp được Sasagaki khá nhiều. Mà quan trọng nhất là,

nói chuyện với cô rất vui.



Eri dùng khay bưng ra hai cái ca to và một đĩa nhỏ. Trên đĩa đựng

bánh anh đào Sasagaki mua. Cô đặt cái khay trên mặt bàn làm việc bằng

thép không gỉ.



“Nào, cháu mời bác.” Cô đẩy cái ca màu xanh lam cho Sasagaki.



“Ồ, cảm ơn.” Sasagaki nhận lấy cái ca, uống một ngụm, làm ấm lại cơ thể đang bị lạnh.



Eri ngồi trên ghế của Imaeda, nói, “Cháu ăn đây”, rồi nhồm nhoàm ăn bánh anh đào, vừa nhai vừa giơ tay ra dấu “OK” với Sasagaki.



“Sau đó thế nào, có chuyện gì hay không?” Sasagaki dè dặt hỏi.



Gương mặt tươi tắn của Eri như bao phủ một cái bóng mờ, cô đặt miếng bánh ăn dở xuống đĩa, uống một ngụm cà phê.



“Không có chuyện gì đáng để báo cáo cho bác đâu. Đợt này gần như

không có thư gửi cho anh ấy, dù có người gọi điện tới, cũng chỉ là có

việc muốn uỷ thác thôi.”



Điện thoại của Imaeda vẫn trong trạng thái hoạt động bình thường. Tất nhiên là vì Eri vẫn trả cước định kỳ. Trên danh bạ điện thoại đã đăng

ký là số của Văn phòng thám tử Imaeda nên dĩ nhiên sẽ có người gọi đến

nhờ việc.



“Đã không còn khách trực tiếp đến nữa rồi à?”



“Vâng ạ, đầu năm nay vẫn còn nhiều lắm...”



Nói đoạn, Eri mở ngăn kéo, lấy ra một quyển sổ ghi chép. Sasagaki

biết, cô đã ghi lại mọi việc vào quyển sổ ấy theo cách của mình.



“Mùa hè năm nay có một người đến, tháng Chín có một người nữa, vậy

thôi ạ. Hai người đều là nữ, bà đến mùa hè là khách quay lại.”



“Quay lại?”



“Tức là khách hàng hồi trước từng thuê anh Imaeda điều tra. Bà đó họ

Kawakami, cháu bảo với bà ấy, anh Imaeda nằm viện rồi, trong thời gian

ngắn có thể không xuất viện, bà ấy vô cùng thất vọng ra về. Sau đó cháu

tra lại, thì ra hai năm trước bà ấy đến nhờ điều tra ông chồng ngoại

tình. Hồi đó, hình như không nắm được chứng cứ mấu chốt. Vì vậy, lần này chắc lại muốn điều tra ông chồng nữa. Nhất định là ông chồng kia an

phận được một thời gian lại ngứa ngáy rục rịch rồi.” Eri vui vẻ nói. Cô

vốn rất thích công việc tìm hiểu bí mật của người khác và cũng từng giúp Imaeda làm việc.



“Người đến hồi tháng Chín thì sao? Cũng là khách hàng cũ à?”



“Không phải ạ. Hình như cô ta muốn biết bạn mình trước đây có phải đã từng nhờ anh Imaeda điều tra hay không.”



“Ồ? Nghĩa là sao?”



“Nghĩa là,” Eri ngẩng lên khỏi quyển sổ, nhìn Sasagaki nói, “cô ta

muốn biết khoảng thời gian một năm trước, có người nào họ Akiyoshi nhờ

anh Imaeda điều tra hay không.”



“Hừm.” Nghe cái họ “Akiyoshi” đó, Sasagaki cảm thấy hơi quen tai, nhưng ông không nhớ ra nổi. “Câu hỏi kỳ lạ thật.”



“Thực ra cũng không hẳn là lạ đâu ạ.” Eri cười gian xảo.



“Nghĩa là sao?”



“Hồi trước cháu có nghe anh Imaeda nói, mấy kẻ ngoại tình ấy, thực ra rất nhiều người sợ vợ hoặc chồng thuê thám tử điều tra mình. Vậy nên

cháu nghĩ người phụ nữ kia có lẽ cũng thế. Chắc chắn cô ta đã phát hiện

ra dấu vết một năm trước ông chồng mình từng thuê thám tử nên mới chạy

đến đây để xác nhận.”



“Nhìn cái mặt tự tin của cháu kìa.”



“Trực giác của cháu với mấy chuyện này là chuẩn nhất đấy. Còn nữa

nhé, cháu bảo cô ta, ngay lúc ấy không thể giúp cô ta tra cứu được, khi

nào tìm được cháu sẽ liên hệ lại, kết quả là cô ta bảo đừng gọi điện về

nhà mà hãy gọi điện đến chỗ làm. Thế chẳng phải rất lạ hay sao? Chứng tỏ cô ta sợ ông chồng nghe điện thoại đấy mà.”



“Ừm. Nói như vậy, người phụ nữ này cũng họ... à...”



“Akiyoshi, nhưng cô ta nói với cháu là mình họ Kurihara. Cháu nghĩ

hẳn đây là họ trước khi kết hôn của cô ta và ở nơi làm việc vẫn dùng họ

này. Rất nhiều phụ nữ tiếp tục đi làm sau khi kết hôn đều làm vậy cả.”



Sasagaki đưa mắt đánh giá lại một lượt cô gái đang ngồi trước mặt, lắc lắc đầu.



“Giỏi quá đấy, Eri, cháu chẳng những có năng khiếu thám tử, mà còn có thể trở thành cảnh sát hình sự ấy chứ.”



Eri đắc ý ra mặt, cười hì hì.



“Vậy để cháu suy luận tiếp nhé. Cô Kurihara kia hình như làm dược sĩ ở bệnh viện trực thuộc đại học Teito. Vì vậy đối tượng ngoại tình của cô

ta chính là bác sĩ trong bệnh viện, vả lại tay kia còn có vợ có con nữa. Đây chính là loại ngoại tình kép phổ biến nhất hiện nay đó mà.”



“Kiểu gì vậy chứ! Thế này thì không còn là suy luận nữa rồi, phải gọi là ảo tưởng mới đúng.” Sasagaki chau mày cười cười.



2



Rời khỏi văn phòng thám tử Imaeda, Sasagaki đến khách sạn ở vùng ven khu Shinjuki, lúc ông đi vào vừa đúng bảy giờ.



Nhìn tổng thể, khách sạn này đem lại cảm giác tối tăm lạnh lẽo, không có đại sảnh cho ra hồn, quầy lễ tân cũng chỉ là một cái bàn dài kê

ngang. Một tay trung niên không mấy hợp làm dịch vụ đang vênh mặt đứng

đó. Thế nhưng, nếu muốn ở lại Tokyo mấy ngày, thì đành chịu ở trong

khách sạn kiểu này vậy. Thực ra thì, ngay cả chỗ ở thế này, đối với

Sasagaki cũng không phải chuyện dễ dàng gì. Chỉ là ông không thể nào ở

được kiểu sách sạn con nhộng đang thịnh hành hiện nay. Ông từng ở thử

hai lần, nhưng bộ xương già không chịu đựng nổi, cũng chẳng thể xua tan

mệt mỏi. Ông chỉ cần một gian phòng đơn để nghỉ ngơi cho tử tế, dù đơn

sơ một chút cũng không ngại gì.



Ông làm xong thủ tục nhập phòng như thường lệ, người đàn ông lạnh như băng kia chợt nói, “Ở đây có lời nhắn cho ông Sasagaki.” đoạn đưa cho

ông một phong thư màu trắng cùng với chìa khoá.



“Lời nhắn?”



“Đúng thế,” Nói dứt lời, tay trung niên bắt đầu làm việc khác.



Sasagaki mở phong bì ra xem, có một mảnh giấy nhớ, bên trên viết “Sau khi vào phòng, hãy gọi điện đến phòng 308”.



Chuyện này là sao? Sasagaki nghiêng đầu. Ông không nghĩ ra được ai

chuyển lời nhắn này. Thái độ của tay nhân viên quầy lễ tân chẳng những

không ra gì, mà còn thiếu tập trung nên Sasagaki không khỏi nghi ngờ

không biết có phải y đưa nhầm tin nhắn của người khác hay không.



Sasagaki ở phòng 321, cùng một tầng với người để lại lời nhắn. Ông

vào thang máy, trên đường tới phòng mình, có đi qua phòng 308. Sasagaki

do dự giây lát, nhưng rồi vẫn gõ cửa.



Bên trong vang lên tiếng dép lê loẹt quẹt, kế đó, cánh cửa mở ra.

Nhìn thấy gương mặt xuất hiện sau cánh cửa, Sasagaki bất giác ngẩn

người, thật sự quá bất ngờ!



“Giờ bố mới đến ạ, muộn thế.” Người nở nụ cười cất tiếng là Koga Hisashi.



“Cậu... sao cậu lại ở đây?” Sasagaki hơi lắp bắp hỏi.



“Chuyện này ấy à, nguyên nhân thì nhiều lắm. Con đang đợi bố đây, bố ăn tối chưa ạ?”



“Vẫn chưa.”



“Vậy chúng ta đi kiếm cái gì ăn đi. Hành lý của bố có thể để tạm đây

trước cũng được.” Koga mang hành lý của Sasagaki vào phòng, mở tủ quần

áo, lấy áo vest và áo khoác ngoài.



Koga hỏi Sasagaki muốn ăn gì, Sasagaki bảo chỉ cần không phải đồ Tây

là được. Nghe vậy anh liền dẫn ông đến một quán rượu nhỏ khá bình dân.

Trong quán có chỗ ngồi trên chiếu tatami, kê bốn chiếc bàn nhỏ hình

vuông. Họ lựa một trong số đó rồi ngồi xuống đối diện nhau. Koga nói,

anh ta thường hay ghé quán rượu này mỗi khi đến Tokyo, sashimi và món

kho đều rất khá.



“Chạm cốc trước đã.” Koga cầm chai bia lên rót, Sasagaki giơ cốc lên

đón lấy. Ông định rót lại cho Koga thì anh khước từ, rồi tự châm đầy cốc mình.



Sau khi chạm cốc, uống một ngụm, Sasagaki hỏi, “Sao cậu lại đến đây?”



“Cục Cảnh sát có hội nghị, đáng lẽ trưởng phòng phải đi, nhưng ông ấy nói quả thực không lấy đâu ra thời gian, nên bảo con đi thay. Thật

chẳng ra sao cả.”



“Chứng tỏ cậu được trọng dụng còn gì, nên mừng mới đúng.” Sasagaki

giơ đũa ra gắp một miếng bụng cá ngừ. Mùi vị quả nhiên rất ngon.



Koga từng được Sasagaki dìu dắt, giờ đã thành trưởng ban điều tra của Sở Cảnh sát tỉnh Osaka. Sasagaki biết có một số người ở sau lưng gọi

anh là con mọt thi cử vì anh liên tiếp đỗ các kỳ thi thăng chức. Nhưng

theo Sasagaki thấy, Koga cũng chưa từng lơ là nghiệp vụ thực tế. Anh vẫn giỏi nghiệp vụ như những người khác, đồng thời lại phấn đấu chăm chỉ,

hết lượt này đến lượt khác vượt qua những kỳ thi thăng cấp khó khăn, nên mới khiến những người bình thường khó mà theo kịp.



“Nghĩ cũng thật tức cười,” Sasagaki nói, “một sĩ quan cảnh sát cao

cấp bận rộn, sao lại mò đến nơi này, còn ở trong khách sạn giá rẻ nữa

chứ.”



Koga cười thiểu não.



“Đúng vậy. Bố à, bố cũng phải chọn cái khách sạn nào ra hồn một chút chứ.”



“Đừng đùa nữa, tôi đâu có đi chơi.”



“Vấn đề chính là ở đây.” Koga rót thêm bia vào cốc của Sasagaki. “Nếu bố đến đây chơi thì con chẳng có gì để nói cả. Bố làm việc như thân

trâu thân ngựa đến tận mùa xuân năm nay rồi, giờ hoàn toàn có thể đi

thăm thú khắp nơi. Bố tuyệt đối có quyền ấy. Nhưng mà, hễ cứ nghĩ đến

mục đích bố đến Tokyo này, con thực sự không cười nổi. Mà cô cũng lo

lắng lắm đấy.”



“Hừ, quả nhiên là Katsuko bảo cậu đến, thật hết cách với bà ấy. Bà ấy coi trưởng ban điều tra của Sở Cảnh sát Osaka thành ra thứ gì vậy?”



“Không phải cô bảo con đến đâu. Con nghe cô nói chuyện, thấy lo cho bố quá nên mới đến đấy.”



“Cũng như nhau cả thôi! Katsuko cằn nhằn với cậu chứ gì, hay là nói với Orie?”



“Chuyện này thì, sự thật là mọi người đều rất lo lắng.”



“Hừ! Thật chẳng ra làm sao.”



Koga cũng là thân thích của Sasagaki. Vì anh đã lấy Orie, cháu gái bà Katsuko, vợ của Sasagaki. Họ không qua mai mối, mà yêu nhau rồi mới kết hôn. Nhưng Sasagaki không rõ quá trình hai người quen biết nhau cho

lắm. Có lẽ là bà Katsuko dắt mối tơ hồng, nhưng bọn họ đều giấu giếm

ông, cho đến tận bây giờ, khi đã qua gần hai chục năm, trong lòng ông

vẫn còn khúc mắc.



Hai chai bia đều đã rỗng không, Koga bèn gọi rượu trắng. Sasagaki bắt đầu đụng đũa vào món kho. Tuy nấu theo kiểu Kanto, nhưng vẫn thơm ngon.



Koga rót rượu trắng vào cốc của Sasagaki, buông ra một câu, “Bố vẫn không bỏ được vụ án ấy ạ?”



“Đó là vết thương cũ của tôi.”



“Nhưng mà, đâu chỉ có vụ ấy bị xếp xó. Vả lại bảo là bị xếp xó cũng

không biết chính xác hay không nữa. Hung thủ có thể chính là kẻ đã chết

vì tai nạn xe cộ kia. Bên tổ chuyên án hẳn cũng thiên về ý kiến này.”



“Terasaki không phải hung thủ.” Sasagaki uống một hơi hết sạch rượu

trong cốc. Vụ án mạng xảy ra đã hơn mười chín năm, nhưng trong đầu ông

vẫn nhớ kỹ tên họ của từng nhân vật liên quan.



Vụ án mạng tay chủ tiệm cầm đồ mười chín năm về trước!



“Tìm thế nào cũng không thấy một triệu yên của Kirihara quanh

Terasaki. Tuy có người cho rằng y đã giấu đi rồi, nhưng tôi lại không

nghĩ thế. Khi ấy, Terasaki nợ nần ngập cổ, nếu có một triệu yên, chắc

hẳn y đã đem đi trả nợ rồi, nhưng y lại không làm thế. Điều này chỉ có

một cách lý giải duy nhất, chính là y không có số tiền đó. Tức là, y

không giết Kirihara.”



“Về cơ bản con tán thành ý kiến này. Lúc đó chính vì nghĩ như vậy, mà sau khi Terasaki chết, con cũng theo bố đi hỏi han khắp chốn. Nhưng mà

bố ơi, đã gần hai chục năm rồi.”



“Thời hạn khởi tố đã qua rồi, chuyện này tôi biết. Biết thì biết,

nhưng duy chỉ có vụ án này, nếu không tra ra tận chân tơ kẽ tóc, tôi có

chết cũng không nhắm được mắt.”



Koga đang định rót rượu vào cái cốc không của Sasagaki, thì ông đã

chặn lại giật lấy chai rượu, rót đầy cốc cho anh trước, kế đó mới rót

rượu cho mình.



“Đúng thế, không chỉ có vụ án này bị xếp xó, những vụ lớn hơn, tàn

nhẫn hơn nữa, cuối cùng thậm chí còn chẳng chạm được vào gấu áo hung thủ cũng rất nhiều. Mỗi vụ án đều khiến người ta phải thất vọng, làm những

kẻ điều tra án như chúng ta chẳng có mặt mũi nào mà gặp người khác. Thế

nhưng, tôi không thể buông được vụ án này xuống là có lý do. Tôi cảm

thấy, chính vì vụ án này không bị phá, mà đã hại mấy người vô tội phải

gặp bất hạnh.”



“Nghĩa là sao ạ?”



“Có một cái mầm lẽ ra phải nhổ ngay từ lúc ấy, nhưng vì không nhổ đi, để cái mầm ấy ngày một lớn dần, trưởng thành rồi còn nở hoa nữa, một

đóa hoa độc ác.” Sasagaki mở miệng, để rượu chảy vào cổ họng.



Koga nới lỏng cà vạt và cúc áo trên cùng. “Bố muốn nói đến Karasawa Yukiho?”



Sasagaki cho tay vào túi trong áo khoác, lấy ra một tờ giấy gấp làm đôi, đặt trước mặt Koga.



“Đây là gì vậy?”



“Cậu xem đi.”



Koga mở giấy ra, hai hàng lông mày rậm rạp nhíu chặt lại.



“Cửa hàng R&Y Osaka khai trương... Đây là...”



“Cửa hàng của Karasawa Yukiho. Lợi hại không, rốt cuộc cũng xuất hiện tại Osaka rồi. Ở khu Shinsaibashi. Cậu xem, trong đó nói là sẽ khai

trương trước lễ Giáng sinh một ngày.”



“Đây chính là đóa hoa độc ác đó sao?” Koga gấp tờ rơi ấy lại ngay ngắn, đặt trước mặt Sasagaki.



“Coi như là trái cây đơm ra từ đó đi.”



“Từ bao giờ? Bố bắt đầu nghi ngờ Karasawa Yukiho từ bao giờ? Mà

không, có phải từ hồi cô ta vẫn còn tên là Nishimoto Yukiho không?”



“Hồi cô ta vẫn còn là Nishimoto Yukiho. Một năm sau khi Kirihara

Yosuke bị giết, Nishimoto Fumiyo cũng chết. Sau vụ án ấy, cách nhìn của

tôi đối với cô bé gái đó đã thay đổi.”



“Vụ án này hình như được coi là tai nạn và khép lại rồi nhỉ. Nhưng,

đến cuối cùng bố vẫn kiên trì cho rằng đó không đơn thuần chỉ là chết do tai nạn.”



“Tuyệt đối không phải. Trong báo cáo nói, nạn nhân uống thứ rượu mà

bình thường chị ta không uống, lại nốc vào một lượng thuốc cảm cao gấp

năm lần lượng dùng bình thường. Làm gì có tai nạn kiểu ấy chứ? Nhưng rất tiếc, vụ ấy không phải do tổ chúng ta phụ trách nên không thể tùy tiện

nêu ý kiến được.”



“Chắc chắn cũng có người nghĩ là tự sát, chỉ có điều...” Koga khoanh tay trước ngực, nét mặt như đang nhớ lại.



“Lời chứng của Yukiho. Cô ta nói mẹ bị cảm, lúc lạnh sẽ uống rượu trắng. Thế nên mới loại trừ khả năng tự sát này.”



“Bình thường không ai nghĩ là cô con gái lại ngụy tạo lời chứng.”



“Nhưng mà, ngoài Yukiho ra, không ai nói Fumiyo bị cảm cả. Thế nên mới có khả năng con bé nói dối.”



“Sao phải nói dối chứ? Đối với Yukiho, dù tự sát hay tai nạn thì có

gì khác biệt đâu? Nếu nói một năm trước Fumiyo đã mua bảo hiểm nhân thọ

thì có lẽ còn là muốn tiền bồi thường, nhưng đâu có chuyện đó. Vả lại,

khi ấy Yukiho vẫn còn học cấp I, chắc không nghĩ xa được đến thế...” Nói đến đó, Koga đột nhiên giật nảy mình. “Chắc không phải bố định nói,

Fumiyo bị Yukiho giết đấy chứ?”



Koga nói bằng giọng đùa cợt, nhưng Sasagaki lại không hề cười.



“Tôi không bảo thế, nhưng có thể con bé đã giở trò gì đó.”



“Giở trò ư?”



“Ví dụ, có thể con bé đã phát hiện mẹ mình có dấu hiệu tự sát, nhưng giả bộ không nhận ra.”



“Ý bố là, Yukiho hy vọng Fumiyo chết?”



“Sau khi Fumiyo chết không được bao lâu, Yukiho liền được bà Karasawa Reiko nhận nuôi. Có lẽ từ trước đó rất lâu họ đã đề cập đến chuyện này

rồi. Rất có thể Fumiyo không đồng ý, nhưng bản thân Yukiho lại muốn làm

con nuôi.”



“Có điều, cũng không thể vì vậy mà thấy mẹ đẻ mình chết cũng không cứu chứ?”



“Con bé ấy có thể thản nhiên làm chuyện đó. Nó che giấu việc mẹ mình

tự sát còn vì một lý do khác. Có thể đối với nó đây mới là lý do quan

trọng nhất. Đó là đánh giá của người ngoài. Mẹ chết vì tai nạn sẽ khiến

cho người đời thương cảm. Nhưng nếu là tự sát ắt sẽ bị người ta nhìn với ánh mắt khác, nghi ngờ đằng sau có nguyên nhân gì đó không đơn giản.

Nếu nghĩ cho tương lai, lựa chọn bên nào hẳn là rất rõ ràng rồi.”



“Con hiểu ý bố, nhưng... vẫn hơi khó chấp nhận.” Koga lại gọi thêm hai chai rượu trắng.



“Tôi cũng vậy, khi ấy vẫn chưa nghĩ đến những chuyện đó. Trong quá

trình lần theo điều tra Karasawa Yukiho, mới dần dà sắp xếp ra những suy nghĩ này. Ồ, cái này ngon này! Là cái gì tẩm bột rán vậy?” Ông cầm đũa

gắp lên một miếng nhỏ, cẩn thận quan sát.



“Bố đoán xem?” Koga đắc ý cười.



“Không biết nên mới hỏi cậu chứ, là cái gì vậy? Vị này tôi chưa ăn bao giờ.”



“Natto đấy ạ.”



“Natto? Cái thứ đậu đã thối hoắc ra ấy à?”



“Vâng ạ.” Koga cười cười đưa cốc rượu lên miệng, “Con nghĩ bố có ghét ăn Natto mấy chăng nữa, nếu làm kiểu này, chắc sẽ ăn được.”



“Ờ, đây chính là cái thứ Natto dính nhơm nhớp ấy à?” Sasagaki ngửi

ngửi, xem xét kỹ càng rồi mới bỏ vào miệng. Một vị bùi bùi lan tỏa trong miệng. “Ừm, ngon!”



“Có nghĩa là không nên có định kiến với bất kỳ điều gì.”



“Hoàn toàn chính xác.” Sasagaki uống rượu, cảm giác lồng ngực ấm sực

lên. “Không sai, định kiến. Chính vì vậy, chúng ta mới phạm phải sai lầm lớn. Sau khi bắt đầu cảm thấy Yukiho không phải một cô bé bình thường,

tôi xem xét lại vụ án mạng chủ tiệm cầm đồ, và phát hiện ra chúng ta đã

sơ sót mấy điểm quan trọng.”



“Điểm quan trọng gì ạ?” Ánh mắt Koga nghiêm túc.



Sasagaki nhìn lại anh ta. “Đầu tiên, dấu giày.”



“Dấu giày?”



“Dấu giày ở hiện trường nơi phát hiện cái xác. Trên sàn nhà có một

lớp bụi, để lại khá nhiều dấu giày. Nhưng chúng ta hoàn toàn không để ý. Cậu còn nhớ là tại sao không?”



“Vì không phát hiện ra dấu giày nào thuộc về hung thủ, đúng không ạ?”



Sasagaki gật đầu.



“Dấu giày ở hiện trường, ngoài giày da của nạn nhân ra, toàn là giày

thể thao của lũ trẻ. Chỗ đó bị lũ trẻ con coi là sân chơi, người phát

hiện ra xác chết lại là học sinh trường cấp I Oe, có vết giày trẻ con là chuyện đương nhiên. Thế nhưng, kẽ hở chính là đây.”



“Ý bố là, hung thủ cũng đi giày thể thao của trẻ con?”



“Cậu không cảm thấy, chúng ta thật sự rất sơ suất khi hoàn toàn không nghĩ đến điểm này à?”



Lời nói của Sasagaki làm khóe miệng Koga nhếch lên. Anh ta tự rót

rượu cho mình rồi uống một hơi cạn sạch. “Trẻ con không thể giết người

kiểu đó được chứ?”



“Đổi một góc độ khác thì chính vì là trẻ con nên mới làm được. Vì nạn nhân không cảnh giác.”



“Nhưng mà...”



“Chúng ta còn bỏ sót một điểm.” Sasagaki đặt đũa xuống, giơ ngón trỏ lên. “Chính là chứng cứ ngoại phạm.”



“Có sơ hở gì ạ?”



“Chúng ta để mắt đến Nishimoto Fumiyo, sau khi xác nhận chứng cứ

ngoại phạm của chị ta, việc đầu tiên nghĩ đến là có thể chị ta có đồng

phạm là đàn ông. Vì vậy mà tìm được Terasaki. Nhưng trước đó, chúng ta

đáng lẽ phải chú ý hơn đến một người khác.”



“Con còn nhớ.” Koga vê cằm, ngước mắt lên. “Hình như lúc đó Yukiho đã đến thư viện rồi.”



Sasagaki nhìn anh ta nói. “Cậu nhớ cũng rõ thật đấy.”



Koga cười thiểu não. “Cả bố cũng cho rằng con là loại mọt thi cử không biết nghiệp vụ thực tế sao?”



“Không phải, tôi không có ý đó. Chỉ là tôi cho rằng, cảnh sát chúng

ta không ai nắm được hành tung của Yukiho ngày hôm đó. Không sai, Yukiho đã đến thư viện. Nhưng mà, điều tra kỹ càng thì thư viện ấy và tòa nhà

hiện trường xảy ra vụ án mạng chỉ gần trong gang tấc. Đối với Yukiho,

tòa nhà ấy nằm ngay trên đường từ thư viện trở về nhà.”



“Con hiểu ý bố, nhưng nói gì thì nói, con bé khi ấy mới học lớp năm mà, lớp năm cũng mới...”



“Mười một tuổi. Tuổi ấy đã có trí tuệ và kiến thức tương đối rồi.”

Sasagaki lấy ra bao Seven Stars, rút một điếu đưa lên miệng, rồi tìm

diêm.



Koga nhanh chóng vươn tay ra, trong tay cầm bật lửa. “Bố nói đúng.”

Anh ta vừa nói vừa đánh lửa. Bật lửa cao cấp ngay cả tiếng xẹt lửa cũng

rất trầm.



Sasagaki cảm ơn, rồi mới ghé lại gần ngọn lửa châm thuốc. Vừa phun ra một làn khói trắng, ông vừa nhìn chằm chằm vào tay Koga. “Dunhill à?”



“Không, Cartier.”



Sasagaki “ừm” một tiếng, kéo cái gạt tàn lại.



“Sau khi Terasaki chết vì tai nạn ô tô, chúng ta đã tìm được trong xe của y một chiếc bật lửa Dunhill. Cậu còn nhớ không?”



“Khi ấy mọi người nghi ngờ đó là bật lửa của tay chủ tiệm cầm đồ bị giết, nhưng không tra ra được, bèn gác lại đó.”



“Tôi cho rằng đó chính là bật lửa của nạn nhân, nhưng hung thủ không

phải Terasaki. Theo như suy luận của tôi, kẻ muốn Terasaki gánh tội nếu

không phải đã lén lút bỏ thứ đó trong xe, thì là đã tìm cớ gì đó mà đưa

cho y.”



“Ý bố đó cũng là mánh lới của Yukiho à?”



“Suy luận như vậy là hợp lý. Còn hơn nói Terasaki tình cờ lại dùng đúng loại bật lửa giống nạn nhân.”



Koga thở dài một tiếng, ngay sau đó lại trầm ngâm.



“Con thật sự khâm phục sự linh hoạt của bố khi nghi ngờ Yukiho. Đúng

là có thể hồi đó chúng ta đã sơ hở khi không điều tra kỹ càng về cô ta

với lý do Yukiho còn nhỏ. Nhưng bố à, đây chẳng qua chỉ là một khả năng

thôi, có phải không? Bố có chứng cứ quan trọng nào chứng minh Yukiho

chính là hung thủ không?”



“Chứng cứ quan trọng...” Sasagaki hít một hơi thuốc, chầm chậm phả

khói ra. Trong chớp mắt, làn khói thuốc ngưng tụ lại trên đỉnh đầu Koga, rồi nhanh chóng tản đi. “Không có, tôi chỉ có thể nói là không có.”



“Nếu đã vậy, chi bằng hãy nghĩ lại một lần nữa từ đầu xem. Với lại,

bố à, rất đáng tiếc, vụ án này đã quá thời hạn khởi tố rồi. Cho dù bố có tìm ra hung thủ thật sự, chúng ta cũng chẳng làm gì được hắn.”



“Tôi biết chứ.”



“Vậy...”



“Cậu nghe tôi nói đã.” Sasagaki dụi điếu thuốc vào gạt tàn, sau đó

đưa mắt nhìn xung quanh, kiểm tra thấy không có ai nghe trộm mới tiếp

lời. “Cậu đã hiểu lầm một chuyện quan trọng nhất, tôi không phải đang

đuổi theo thủ phạm sát hại tay chủ tiệm cầm đồ kia. Tiện thể cho cậu

biết luôn, tôi cũng không chỉ đuổi theo một mình Karasawa Yukiho.”



“Bố đang đuổi theo một kẻ khác?” Hai mắt Koga sáng bừng lên, bắn ra

những tia nhìn sắc bén, gương mặt cũng xuất hiện biểu cảm của một trưởng ban điều tra.



“Tôi đang đuổi theo,” Sasagaki nở nụ cười đắc ý, “cả tôm pháo và cá bống trắng.”



3



Thời gian khám bệnh của bệnh viện trực thuộc đại học Teito bắt đầu từ chín giờ sáng, còn thời gian làm việc của Kurihara Noriko

thì bắt đầu từ tám giờ năm mươi phút. Đó là vì từ lúc bệnh viện bắt đầu

khám bệnh cho đến lúc đơn thuốc đưa tới phòng dược, có một khoảng thời

gian chênh lệch tương đối dài.



Khi đơn thuốc đưa tới phòng dược, các dược sĩ sẽ lấy thuốc theo nhóm

hai người. Một người điều chế thuốc, người còn lại xác nhận xem có sai

sót gì không, rồi cho thuốc vào túi. Người xác nhận phải đóng dấu lên

túi thuốc.



Ngoài phục vụ các bệnh nhân đến khám, còn có công việc ở các phòng

bệnh nội trú, chẳng hạn như đưa thuốc tiêm hoặc điều chế thuốc khẩn cấp.



Hôm đó, trong lúc Noriko cùng đồng nghiệp đang tối mắt tối mũi với

những công việc này, có một người đàn ông cứ ngồi ở góc phòng dược. Anh

ta là một phó giáo sư trẻ tuổi của khoa Y, cặp mắt từ đầu chí cuối chăm

chú dán vào màn hình máy tính.



Từ hai năm về trước, đại học Teito bắt đầu tích cực tiến hành trao

đổi thông tin với các cơ quan nghiên cứu khác qua hệ thống máy tính. Một trong những thành quả cụ thể nhất chính là tiến hành hợp tác trực tuyến với trung tâm nghiên cứu của một công ty bào chế dược phẩm. Nhờ vậy,

phía bệnh viện có thể thông qua hệ thống này lấy được các số liệu cần

thiết về các loại dược phẩm do công ty này sản xuất và tiêu thụ.



Về cơ bản, bất cứ ai cũng có thể sử dụng được hệ thống này, nhưng

điều kiện tiên quyết là phải có tên người dùng và mật khẩu. Noriko có cả hai thứ, song từ khi cỗ máy chẳng rõ dùng để làm gì này chuyển vào đây, cô chưa từng chạm đến nó. Khi muốn tìm hiểu các thông tin liên quan đến dược phẩm, cô sẽ dùng cách thức trước đây, tức là hỏi công ty sản xuất. Những dược sĩ khác cũng làm vậy.



Mọi người đều biết tay phó giáo sư trẻ tuổi ngồi trước màn hình máy

tính đang hợp tác với một công ty dược phẩm, cùng tiến hành nghiên cứu

gì đó. Noriko cho rằng, hệ thống này đối với những người như vậy mà nói

hẳn là thuận tiện lắm. Nhưng máy tính dường như không phải hoàn hảo gì.

Chỉ mấy ngày trước thôi, kỹ thuật viên ở bên ngoài vừa đến thảo luận với các bác sĩ, bọn họ nghi ngờ máy tính đã bị hacker thâm nhập.



Tất nhiên, Noriko hoàn toàn chẳng hiểu gì về mấy chuyện này.



Buổi chiều, Noriko xuống phòng bệnh hướng dẫn các bệnh nhân nội trú

dùng thuốc, bàn bạc với các bác sĩ và y tá về thuốc dùng cho người bệnh, sau đó về phòng Dược pha chế thuốc. Đây là một ngày như mọi ngày khác.

Trong lúc cô làm những công việc hằng ngày ấy, đồng hồ đã chỉ năm giờ.



Đang chuẩn bị về nhà thì có đồng nghiệp gọi cô, bảo là có điện thoại tìm.



Người cô nôn nao. Có lẽ là anh ta gọi.



“A lô.” Cô nói vào ống nghe, giọng hơi khàn khàn.



“À... cô Kurihara Noriko phải không?” Là giọng đàn ông, nhưng không

hề giống với giọng nói mà Noriko hằng chờ đợi. Giọng đối phương nhỏ đến

nỗi khiến người ta liên tưởng đến người mắc bệnh, nghe hơi quen tai.



Cô trả lời. “Vâng tôi đây.”



“Cô còn nhớ tôi không? Tôi là Fujii, Fujii Tamotsu.”



“Anh Fujii...” Vừa thốt ra cái tên này, Noriko cũng nhớ ra luôn.

Fujii Tamotsu là người đàn ông cô quen qua công ty mai mối, người duy

nhất đã hẹn hò đến lần thứ ba. Cô ậm ờ một tiếng. “Anh khỏe không ạ?”



“Vâng, cũng tàm tạm. Cô Kurihara cũng vẫn khỏe chứ?”



“Vâng..”



“Thực ra, giờ tôi đang ở gần bệnh viện. Vừa nãy tôi ở trong đó trông thấy cô, hình như cô gầy đi một chút.”



“Thế ạ...” Noriko rất kinh ngạc, không biết rốt cuộc anh ta tìm mình làm gì.



“Xin hỏi, lát nữa có thể gặp nhau được không? Uống một tách trà.”



Nghe người đàn ông nói, Noriko cảm thấy phiền phức vô cùng. Cứ tưởng anh ta có chuyện gì quan trọng.



“Thật ngại quá, hôm nay tôi có việc rồi.”



“Một lát thôi cũng được. Có chuyện này dù thế nào tôi cũng phải nói với cô. Chỉ cần ba mươi phút thôi, được không?”



Noriko cố ý thở dài thành tiếng để đối phương nghe thấy.



“Xin anh đừng như vậy nữa. Anh chỉ gọi điện đến thôi đã gây phiền phức cho tôi rồi, tôi gác máy đây.”



“Xin gượm đã. Vậy xin hãy trả lời một câu hỏi của tôi thôi. Cô vẫn sống chung với người đó chứ?”



“Hả?”



“Nếu cô vẫn sống chung với anh ta, tôi nhất định phải nói chuyện này cho cô biết.”



Noriko dùng bàn tay bịt ống nghe lại, hạ giọng hỏi. “Chuyện gì vậy?”



“Tôi muốn nói trực tiếp với cô.” Có lẽ cảm thấy câu nói này đã thu hút được sự quan tâm của cô, người đàn ông kiên quyết nói.



Noriko hơi do dự, nhưng không thể phớt lờ được.



“Được rồi, chúng ta gặp nhau ở đâu?”



Địa điểm Fujii chỉ định là một quán cà phê cách bệnh viện mấy phút đi bộ, ở ngay gần ga Ogikubo.



Cô vừa bước vào cửa, người đàn ông ngồi ở phía trong đã giơ tay vẫy

vẫy. Thân hình gầy gò như con bọ ngựa của anh ta vẫn không hề thay đổi.

Anh ta mặc bộ vest màu xám, nhưng cái áo trông cứ như thể treo trên mắc

áo vậy.



“Lâu lắm không gặp.” Noriko ngồi xuống đối diện với Fujii.



“Tôi xin lỗi vì đột nhiên lại gọi điện thoại cho cô thế này.”



“Là chuyện gì vậy ạ?”



“Uống chút gì trước đã.”



“Không cần đâu. Nghe anh nói xong là tôi đi luôn.”



“Nhưng mà, chuyện ấy không nói hết ngay được trong vài phút đâu.”

Fujii vẫy nhân viên phục vụ, gọi trà sữa Royal, sau đó nhìn Noriko mỉm

cười. “Cô thích trà sữa Royal, đúng không nhỉ?”



Đúng là trước đây khi hẹn hò với anh ta, cô thường gọi loại đó. Thấy

anh ta còn nhớ cả chuyện này, Noriko cảm thấy không thoải mái cho lắm.



“Mẹ anh vẫn khỏe chứ?” Cô muốn lấy chuyện này ra móc máy anh ta.



Gương mặt Fujii đột nhiên trở nên u ám, anh ta lắc đầu. “Mẹ tôi mất nửa năm trước rồi.”



“Ôi... Vậy sao. Tôi xin chia buồn cùng anh. Bác bị bệnh ạ?”



“Không, là tai nạn, bị nghẹn chết.”



“Ăn bánh giầy hay gì đó ạ?”



“Không, là bông.”



“Bông?”



“Nhân lúc tôi không để ý, bà đã ăn bông trong chăn. Tôi thực sự không hiểu nổi tại sao bà lại làm thế nữa. Lúc lấy ra xem, cục bông ấy còn to hơn quả bóng mềm nữa. Cô có tin nổi không?”



Noriko lắc đầu, cảm thấy thực khó mà tin nổi.



“Tôi vừa đau lòng vừa tự trách mình, chẳng còn tâm trí làm gì trong

một thời gian. Nhưng thương tâm thì thương tâm trong lòng cũng không

khỏi thấy nhẹ nhõm, thầm nhủ, à, sau này không cần phải lo mẹ đi lung

tung nữa.” Fujii thở hắt ra một hơi.



Noriko có thể hiểu được tâm trạng này của anh ta. Do công việc, cô đã chứng kiến nhiều người mệt mỏi vì phải chăm sóc người nhà bị bệnh rồi.



Nhưng mà, cô thầm nghĩ, chuyện này không thể oán trách tôi được.



Trà sữa đã được bưng ra, cô uống một ngụm. Fujii nhìn cô, nheo nheo mắt lại, “Lâu lắm không thấy cô uống hồng trà như vậy rồi.”



Noriko cụp mí mắt xuống, không biết nên đối đáp thế nào.



“Thực ra khi mẹ tôi qua đời, ngoài thở phào nhẹ nhõm ra, tôi còn một

suy nghĩ không an phận nữa.” Fujii tiếp tục. “Chính là, giờ chắc cô ấy

chấp nhận qua lại với mình rồi nhỉ. Cô ấy mà tôi nói, chắc em cũng biết

là ai đấy?”



“Chuyện đã lâu rồi mà...”



“Tôi vẫn không thể quên được em nên đã đến khu căn hộ của em. Đó là

khoảng một tháng sau khi mẹ tôi qua đời. Khi ấy tôi mới biết em đã sống

chung với người khác rồi. Nói thực lòng, tôi rất sốc, nhưng ngoài ra,

tôi cũng hết sức kinh ngạc khi nhìn thấy anh ta.”



Noriko nhìn Fujii. “Có gì mà kinh ngạc chứ?”



“Thật ra tôi từng gặp anh ta rồi.”



“Không phải chứ?”



“Thật đó. Tôi không biết anh ta tên là gì, nhưng khuôn mặt anh ta thì tôi nhớ rất rõ.”



“Anh gặp anh ấy ở đâu?”



“Ở ngay bên cạnh em.”



“Sao?”



“Có lẽ khoảng tháng Tư năm ngoái. Nói thực với em, hồi đó chỉ cần có

thời gian rảnh là tôi lại chạy đến bệnh viện hoặc khu nhà em ở để ngắm

em, chỉ là em không phát hiện ra thôi.”



“Tôi hoàn toàn không biết gì cả.” Noriko lắc đầu. Cô có nằm mơ cũng

không thể ngờ lại có người làm vậy với mình. Bất giác cô khó chịu đến


Kim đồng hồ đã qua vạch mười hai giờ, cứ ngỡ hôm nay sẽ

không còn khách nào nữa, nhưng cánh cửa gỗ cũ kỹ lại cót két mở ra. Một

người đàn ông chừng quá lục tuần mặc áo khoác màu xám sậm, chậm rãi bước vào.



Nhìn rõ người đến là ai, cụ cười Kirihara Yaeko cố đùn ra trên mặt

thình lình biến mất, bà ta khẽ thở dài, “Thì ra là ông Sasagaki, tôi còn tưởng thần tài gõ cửa nữa cơ đấy.”



“Nói năng kiểu gì vậy. Tôi không phải thần tài chắc?” Sasagaki cởi

khăn quàng và áo khoác, tự tiện treo lên tường. Ông ngồi xuống giữa quầy bar hình chữ L có thể ngồi được mười người. Bên dưới áo khoác, ông mặc

một bộ vest màu cà phê đã sờn bợt cả ra. Sau khi rời khỏi ngành cảnh

sát, phong cách của Sasagaki không hề thay đổi.



Yaeko đặt chiếc cốc thuỷ tinh xuống trước mặt ông, mở chai bia rót vào. Bà ta biết, khi tới đây ông chỉ uống mỗi bia.



Sasagaki thoải mái uống một ngụm, rồi đưa tay đón lấy đĩa đồ nhắm đơn giảm Yaeko bưng ra.



“Làm ăn thế nào hả? Mùa tiệc cuối năm sắp đến rồi nhỉ.”



“Thì ông thấy đấy thôi, chỗ này của tôi đã xập xệ từ hồi mới bắt đầu

kinh tế bong bóng mấy năm trước rồi. Phải nói là, kinh tế bong bóng chưa bao giờ nổi bong bóng ở chỗ này của tôi mới đúng.”



Yaeko lại lấy thêm một cái cốc nữa, tự rót bia cho mình, cũng chẳng buồn nâng cốc với Sasagaki, một hơi uống hết luôn nửa cốc.



“Bà vẫn uống hùng hục như thế.” Sasagaki đưa tay cầm chai bia lên, rót đầy cốc cho bà ta.



“Cảm ơn.” Yaeko gật đầu. “Đây là lạc thú duy nhất của tôi mà.”



“Bà Yaeko, cửa tiệm này của bà mở được bao nhiêu năm rồi?”



“Ừm, bao nhiêu năm rồi nhỉ?” Bà ta gập ngón tay lại, “Mười bốn năm

rồi... đúng, đúng vậy, tháng Hai sang năm là được mười bốn năm rồi.”



“Cùng giỏi chèo chống lắm, bà vẫn hợp với cái ngành này nhất nhỉ, đúng không?”



“Ha ha!” Bà ta bật cười.



“Có thể. Hồi trước mở quán cà phê ba năm là sập tiệm.”



“Việc ở tiệm cầm đồ, bà cũng chẳng bao giờ ra giúp nhỉ?”



“Đúng vậy, đó là công việc tôi căm ghét nhất, hoàn toàn không phù hợp với tính cách của tôi.”



Dù vậy, bà ta vẫn làm bà chủ tiệm cầm đồ gần ba mươi năm, mặc cho bà

ta khăng khăng đây là sai lầm lớn nhất của đời mình, nếu không lấy

Kirihara, tiếp tục làm việc ở Kitashinchi, giờ không biết đã quản lý

trong tay quán rượu lớn cỡ nào rồi.



Sau khi Yosuke chồng bà bị sát hại, tiệm cầm đồ tạm thời do Matsuura

quản lý, nhưng không lâu sau thì cả họ họp lại, quyết định tiệm cầm đồ

sẽ do em họ của Yosuke quản lý. Vốn dĩ, nhà Kirihara đã kinh doanh tiệm

cầm đồ mấy đời nay, họ hàng thân thích liên kết lại lập ra mấy cửa tiệm. Vì vậy, sau khi Yosuke qua đời, Yaeko cũng không thể muốn làm gì thì

làm.



Chẳng bao lâu sau, Matsuura nghỉ việc ở tiệm. Theo ông chủ mới, tức

em họ của Yosuke nói, Matsuura đã ăn cắp khá nhiều tiền trong tiệm,

nhưng Yaeko chẳng biết số tiền là bao nhiêu, Trên thực tế, bà ta hoàn

toàn không quan tâm đến chuyện ấy.



Yaeko chuyển nhượng lại nhà và cửa tiệm cho em họ, dùng số tiền ấy mở một quán cà phê ở Yehonmachi. Lúc đó, bà ta tính toán sai lầm, thì ra,

đất xây tiệm cầm đồ Kirihara lại đứng tên anh trai Yosuke, chứ không

phải anh ta, Yosuke chẳng qua chỉ thuê lại. Chuyện này Yaeko hoàn toàn

không hay biết.



Hồi mới khai trương, quán cà phê kinh doanh cũng tương đối thuận lợi, nhưng được nửa năm thì khách hàng bắt đầu ít dần, càng về sau lại càng

kém hơn, không rõ nguyên nhân tại sao. Yaeko đã thử thay đổi sản phẩm,

trang trí lại nội thất, song chuyện làm ăn vẫn tiếp tục đi xuống, bất

đắc dĩ đành phải cắt giảm nhân công, nhưng lại dẫn đến chất lượng phục

vụ càng thấp hơn, khách càng không chịu đến nữa.



Cuối cùng, quán mở chưa được ba năm đã phải đóng cửa. Khi ấy, người

bạn làm tiếp viên trong quán rượu của bà ta nói ở Shitenno có một cửa

hàng, hỏi bà ta có muốn lấy lại không. Điều kiện rất tốt, vừa không cần

tiền lợi tức, mà nội thất và trang thiết bị cũng sẵn có cả rồi. Yaeko

lập tức nhận lời, đó chính là cái quán hiện nay. Mười bốn năm nay, cuộc

sống của Yaeko đều nhờ vào cái quán này. Cứ nghĩ đến chuyện không có cái quán, cho dù là hiện tại, bà ta vẫn sợ đến toát mồ hôi lạnh. Chỉ có

điều, khi quán này vừa khai trương, thì trò Kẻ xâm lược ngoài hành tinh

bắt đầu làm mưa làm gió khắp cả nước, khách khứa tranh nhau vào quán cà

phê không phải để uống cà phê mà để chơi trò chơi điện tử, khi ấy, bà ta cực kỳ hối hận vì đã đóng cửa mất quán cà phê kia.



“Con bà sao rồi? Vẫn không có tin tức gì hả?” Sasagaki nói.



Miệng Yaeko méo xệch đi, lắc lắc đầu. “Tôi đã không còn hy vọng gì nữa rồi.”



“Năm nay bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Vừa tròn ba mươi?”



“Có trời mới biết, tôi quên rồi.”



Sasagaki bắt đầu thỉnh thoảng ghé qua từ năm thứ tư sau khi Yaeko mở

quán. Ông vốn là cảnh sát phụ trách vụ án mạng của Yosuke, nhưng gần như không bao giờ nhắc đến vụ đó, mà lần nào cũng hỏi thăm Ryoji.



Ryoji ở lại tiệm cầm đồ Kirihara cho tới khi tốt nghiệp cấp II. Lúc

ấy, trong đầu Yaeko chỉ nghĩ đến chuyện làm ăn của quán cà phê, không

phải chăm sóc con trai coi như đã giúp bà ta một việc lớn.



Có lẽ cùng thời điểm Yaeko bắt đầu thích kinh doanh cái quán này,

Ryoji cũng rời khỏi tiệm cầm đồ Kirihara. Không phải vì thế mà cuộc sống ấm áp của hai mẹ con nương tựa lẫn nhau bắt đầu. Yaeki buộc phải ở lại

cùng những khách uống rượu say đến tận nửa đêm, sau đó là về lăn ra ngủ. Lúc bà ta ra khỏi giường thì đã quá trưa, ăn uống qua loa xong, tắm rửa trang điểm, rồi lại mở quán. Bà ta chưa từng nấu bữa sáng cho con trai

lần nào, bữa tối cũng hầu như mua ở bên ngoài. Tính thời gian mẹ con gặp nhau cả ngày gộp lại không biết có được một tiếng đồng hồ không.



Sau đó, số lần Ryoji qua đêm bên ngoài càng lúc càng nhiều. Hỏi đi

đâu, thì nhỉ nhận được những câu trả lời ậm ờ cho qua. Nhưng nhà trường

và cảnh sát đều chưa bao giờ tìm đến nói Ryoji gây phiền phức, nên Yaeko cũng chẳng để tâm lắm. Bà ta đã quá mệt mỏi với cuộc sống hàng ngày

rồi.



Buổi sáng hôm diễn ra lễ tốt nghiệp cấp III, Ryoji chuẩn bị ra ngoài

như thường lệ. Yaeko hôm đó hiếm hoi dậy sớm, nằm trong chăn tiễn cậu ta ra cửa bằng ánh mắt.



Bình thường, Ryoji bao giờ cũng lẳng lặng ra đi, nhưng hôm ấy lại ngoảnh đầu vào trong nhà nói với Yaeko, “Con đi đây.”



“Ừm, đi đường cẩn thận.” Bà ta trả lời, vẫn còn đang bần thần ngái ngủ.



Đó là cuộc đối thoại cuối cùng của hai mẹ con họ. Mấy tiếng đồng hồ

sau, Yaeko mới phát hiện trên bàn trang điểm có mảnh giấy, bên trên chỉ

viết “Con không về nữa đâu”. Đúng như lời nhắn để lại, Ryoji không bao

giờ xuất hiện nữa.



Nếu thật sự muốn tìm con trai, đương nhiên cũng không đến nỗi không

biết phải bắt đầu từ đâu, nhưng Yaeko cũng không tích cực tìm kiếm cho

lắm. Mặc dù cô đơn, nhưng trong lòng bà ta lại cảm thấy chuyện này thành ra như vậy là có nguyên nhân của nó. Bà ta biết rõ mình chưa bao giờ

làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, cũng hiểu được rằng Ryoji không

hề coi mình là mẹ.



Yaeko ngờ rằng không biết có phải mình bẩm sinh đã thiếu mất bản năng làm mẹ hay không. Hồi đó bà ta sinh Ryoji không phải vì muốn có con mà

nguyên nhân duy nhất là bà ta chẳng có lý do gì để phá thai cả. Bà ta

kết hôn với Yosuke, cũng vì cho rằng từ đây không cần phải làm việc mà

sẽ được sống sung sướng thoải mái. Thế nhưng, vai trò làm vợ làm mẹ nhạt nhẽo, vô vị hơn những gì bà ta tưởng tượng ban đầu quá nhiều. Bà ta

không muốn làm vợ hay làm mẹ, mà chỉ mong mình mãi mãi là đàn bà thôi.



Khoảng ba tháng sau khi Ryoji bỏ nhà ra đi, bà ta có tư tình với một

người đàn ông bán các hàng tạp hoá nhập khẩu. Ông ta đã xoa dịu trái tim cô đơn của Yaeko, thực hiện nguyện vọng làm đàn bà của bà ta.



Bọn họ sống chung được khoảng hai năm, nguyên nhân chia tay là vì

người đàn ông cần phải trở về ngôi nhà vốn dĩ của ông ta. Ông ta đã có

vợ, nhà ở thành phố Hoki.



Sau đó, bà ta cũng qua lại với mấy người rồi lại chia tay, giờ vẫn

một thân một mình. Cuộc sống rất thoải mái, nhưng cũng có khi cảm thấy

cô đơn buồn chán. Những đêm như thế, bà ta sẽ nhớ đến Ryoji. Nhưng bà ta không cho phép mình có ý nghĩ muốn gặp anh ta, bà ta biết, mình không

có tư cách ấy.



Sasagaki ngậm một điếu Seven Stars, Yaeko nhanh chóng cầm bật lửa lên, giúp ông châm thuốc.



“À, bao nhiêu năm rồi nhỉ, từ khi chồng bà bị hại ấy?” Sasagaki hút một hơi thuốc, hỏi.



“Chừng hai chục năm...”



“Tính kỹ ra thì là mười chín năm, đúng là chuyện rất lâu rồi.”



“Đúng vậy. Ông Sasagaki nghỉ hưu rồi, còn tôi cũng biến thành một bà già.”



“Đã lâu như vậy, có một số chuyện giờ có thể nói ra được rồi chứ?”



“Ý ông là sao?”



“Ý tôi là, có một số chuyện lúc đó không thể nói ra, giờ thì có thể rồi.”



Yaeko cười nhạt, cầm điếu thuốc của mình lên, châm lửa, hướng lên trần nhà đã ngả màu phả ra một làn khói xám mỏng mảnh.



“Ông nói năng lạ thật, tôi chẳng có gì giấu giếm cả.”



“Hả? Thế mà tôi lại nghĩ không thông rất nhiều điểm đấy.”



“Ông vẫn không buông được vụ án đấy à? Thật là kiên nhẫn.” Yaeko dùng đầu ngón tay kẹp điếu thuốc, khẽ dựa người vào cái tủ phía sau. Tiếng

nhạc vẳng lên không biết từ đâu.



“Ngày xảy ra vụ án, bà nói mình và Matsuura, Ryoji ở nhà. Có thật không?”



“Đúng thế.” Yaeko cầm gạt tàn lên, gảy tàn thuốc vào đó. “Chuyện này

không phải ông Sasagaki đã điều tra đến nẫu cả ra rồi hay sao?”



“Điều tra thì điều tra rồi, nhưng chỉ chứng mình được chứng cứ ngoại phạm của Matsuura.”



“Ông muốn nói là tôi giết ông ta?” Yaeko phả khói ra từ lỗ mũi.



“Không, bà cũng ở cùng ông ta. Điểm tôi nghi ngờ là ba người ở chung

với nhau. Trên thực tế, chỉ có bà và Matsuura ở cạnh nhau thôi, phải

không?”



“Ông Sasagaki, rốt cuộc ông muốn nói gì?”



“Bà và Matsuura có quan hệ với nhau phải không?” Sasagaki uống hết

chỗ bia còn lại trong cốc, ra hiệu bà ta không cần phải giúp, ông sẽ tự

rót cho mình. “Không cần phải giấu giếm nữa chứ? Đã là quá khứ rồi. Đến

bây giờ, cũng chẳng còn ai nói ra nói vào nữa.”



“Giờ mới hỏi chuyện quá khứ, là để làm gì?”



“Chẳng để làm gì cả, chỉ là muốn nghĩ cho thông, Khi xảy ra án mạng,

khách đến cầm đồ nói là cửa tiệm khoá cửa. Về chuyện này, Matsuura nói

là ông ta vào kho bảo hiểm, còn bà và con trai thì đang xem ti vi. Nhưng đó không phải sự thật, thật ra bà và Matsuura đang ở trên giường trong

phòng trong, có phải thế không?”



“Theo ông thì sao?”



“Tôi nói đúng rồi.” Sasagaki cười giảo hoạt, uống một ngụm bia.



Yaeko bình thản tiếp tục hút thuốc. Nhìn làn khói hững hờ bay lên, bà ta bất giác nghĩ lại hồi đó.



Bà ta không có nhiều tình cảm với Matsuura Isamu, chỉ là hàng ngày

buồn chán. Bà ta sốt ruột, chỉ sợ tiếp tục như vậy mình sẽ không còn là

đàn bà nữa. Vì vậy, khi Matsuura theo đuổi, bà ta liền dễ dàng chấp nhận luôn. Con người này nhất định đã nhìn ra được sự trống rỗng bên trong

của Yaeko, nên mới tìm đến.



“Con trai bà ở trên tầng hai à?” Sasagaki hỏi.



“Sao?”



“Tôi nói Ryoji ấy, khi bà và Matsuura ở trong phòng trong tầng một,

thằng bé đang ở trên tầng hai à? Hai người sợ nó đột nhiên xông vào, nên mới khoá chốt cửa ở cầu thang lại.”



“Khoá chốt cửa?” Lời thốt ra khỏi miệng, Yaeko mới gật mạnh đầu.

“Đúng vậy, nghe ông nói thế, tôi mới nhớ ra trên chốt cửa cầu thang có

gắn thêm một ổ khoá. Quả không hổ là cảnh sát, nhớ rõ thế.”



“Sao hả? Lúc đó Ryoji đang ở trên tầng hai đúng không? Nhưng để che

giấu quan hệ giữa bà và Matsuura, hai người quyết định nói với bên ngoài là ba người ở cùng nhau. Có phải vậy không?”



“Ông muốn nghĩ thế thì tuỳ ông, tôi sẽ chẳng nói gì đâu.” Yaeko dúi đầu mẩu thuốc vào gạt tàn. “Mở thêm chai nữa nhé?”



“Được, mở đi.”



Sasagaki uống chai bia thứ hai với đậu phộng, Yaeko cũng uống với

ông. Nhất thời, cả hai đều im lặng. Yaeko nhớ lại lúc đó. Tất cả đều

đúng như Sasagaki nói, khi xảy ra án mạng, bà ta và Matsuura đang hương

lửa mặn nồng, Ryoji ở trên tầng hai, cửa cầu thang khoá chặt.



Nhưng... Matsuura đề nghị cảnh sát hỏi về chứng cứ ngoại phạm, tốt

nhất là cứ nói Ryoji cũng ở chung, như vậy cảnh sát sẽ không suy đoán

lung tung. Kết quả sau khi bàn bạc, họ quyết định nói rằng lúc đó Yaeko

vào Ryoji đang xem ti vi, xem chương trình phim khoa học viễn tưởng mà

bọn con trai đều mê mẩn. Nội dung chương trình đã có giới thiệu tương

đối tỉ mỉ trên tạp chí thiếu niên mà Ryoji đặt định kỳ khi ấy, Yaeko và

Ryoji đọc tạp chí rồi nhớ kỹ nội dung.



“Không biết Miyazaki sẽ thế nào nhỉ?” Sasagaki đột nhiên buông ra một câu.



“Miyazaki?”



“Tsutomu Miyazaki ấy.”



“À.” Yaeko hất mái tóc dài, cảm giác trên tay vương mấy sợi tóc rụng, đưa mắt nhìn, thì ra là tóc bạc quấn vào ngón giữa. Bà ta lẳng lặng thả sợi tóc rơi xuống đất, không để Sasagaki phát hiện. “Tử hình thôi, cái

loại xấu xa ấy.”



“Mấy ngày trước trên báo đã đăng kết quả phán quyết công khai. Hình

như nói, ba tháng trước khi gây án, người ông kính yêu của hắn qua đời,

làm hắn mất đi chỗ dựa tinh thần gì đó.”



“Thế thì sao chứ, nếu người nào như vậy cũng đi giết người thì còn ra gì nữa.” Yaeko lại châm một điếu thuốc.



Từ năm 1988 đến 1989, ở Saitama và Tokyo liên tiếp có bốn bé gái bị

hại. Yaeko xem tin tức biết được vụ “Bắt cóc và sát hại hàng loại bé

gái” này trong quá trình xử án. Luật sư dựa vào kết quả giám định sức

khoẻ tâm thần để bào chữa, nhưng bà ta không hề thấy kỳ quặc với tâm

thái chuyên chọn các bé gái để ra tay. Bà ta từ lâu đã biết những gã có

tâm lý biến thái kiểu này không ít.



“Nếu biết chuyện đó sớm hơn thì đã tốt.” Sasagaki hạ giọng nói.



“Chuyện gì?”



“Sở thích của chồng bà ấy.”



“À...” Yaeko muốn cười, nhưng cơ mặt lại co rút một cách quái dị.



Đến giờ bà ta đã hiểu, thì ra Sasagaki muốn gợi ra chủ đề này, nên mới nhắc đến Tsutomu Miyazaki.



“Chuyện đó thì giúp được gì chứ?” Bà ta hỏi.



“Không chỉ giúp được không thôi mà nếu biết từ lúc vụ án xảy ra, hướng điều tra sẽ thay đổi một trăm tám mươi độ ngay lập tức.”



“Ồ, thế à!” Yaeko phun ra một hơi khói. “Nhưng mà...”



“Phải rồi, lúc đó đương nhiên không thể nói ra.”



“Lại còn!”



“Cũng không thể trách bà được.” Sasagaki giơ tay chống lên trán. “Vậy mà đã tốn mười chín năm trời.”



Yaeko cố nhịn không hỏi ông câu ấy nghĩ là sao. Trong lòng Sasagaki

hẳn đang giấu bí mật gì đó, nhưng chuyện đã đến nước này, bà ta cũng

không muốn biết nữa.



Tiếp sau đấy lại là một khoảng lặng. Khi chai bia thứ hai còn khoảng một phần ba, Sasagaki đứng lên, “Thôi tôi về đây.”



“Cảm ơn ông, trời lạnh thế này vẫn còn ghé qua, khi nào muốn ghé qua đây ngồi nhé.”



“Được, lần sau tôi sẽ đến.” Sasagaki trả tiền, mặc áo khoác vào, quấn chiếc khăn quàng màu nâu trên cổ, “Tuy rằng hơi sớm một chút, nhưng tôi vẫn chúc bà năm mới vui vẻ.”



“Chúc mừng năm mới!” Yaeko nở một nụ cười vui vẻ.



Sasagaki nắm tay nắm cánh cửa cũ kỹ, rồi lại quay đầu hỏi.



“Đúng là ở trên tầng hai chứ?”



“Sao cơ?”



“Ryoji ấy, có đúng là cậu bé ở trên tầng hai suốt không?”



“Rốt cuộc ông muốn nói gì vậy?”



“Không có gì, làm phiền bà rồi.” Sasagaki mở cửa đi ra.



Yaeko nhìn cánh cửa một lúc, rồi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Da gà nổi khắp người không chỉ vì cơn gió lạnh bên ngoài lọt vào.



“Ryo hình như lại ra ngoài rồi.” Giọng Matsuura văng vẳng bên tai. Ông ta lúc đó đang ở trên Yaeko, tóc mai lấm tấm mồ hôi.



Matsuura nghe có người giẫm lên mái ngói nên mới nói như vậy. Yaeko

cũng biết từ lâu, Ryoji thường trèo qua cửa sổ, rồi leo trên mái nhà ra

ngoài. Nhưng bà ta chưa bao giờ nói gì với Ryoji về chuyện này, thằng bé không ở nhà, bà ta mới tiện hú hí với tình nhân. Hôm ấy cũng thế. Lúc

thằng bé trở về, trên mái ngói phát ra tiếng động khe khẽ. Nhưng mà...



Thế thì sao chứ? Có thể nói Ryoji đã làm gì chứ?



14



Trước cửa hàng có ông già Noel tặng thiệp, bên trong liên

tục phát ra ca khúc Giáng sinh được cải biên lại theo phong cách cổ

điển. Dưới tác động chung của các yếu tố như Giáng sinh, cuối năm, cộng

với ưu đãi khi khai trương, cửa hàng đông đến mức đi không lọt. Đưa mắt

nhìn quanh, khách hàng hầu như đều là các phụ nữ trẻ, Sasagaki thầm

nghĩ, thật giống như một đám côn trùng đang bay quanh một đoá hoa.



Chi nhánh số 1 ở Osaka của cửa hàng R&Y hôm nay khai trương rất

long trọng. Khác với cửa hàng ở Tokyo, ở đây R&Y chiếm cả một toà

nhà, bên trong không chỉ có trang phục mà còn có cả tầng chuyên bán đồ

trang sức, túi và giày. Nghe nói trong tiệm toàn là đồ hiệu cao cấp mà

Sasagaki chưa từng biết đến. Cả xã hội đang khốn đốn vì nền kinh tế bong bóng bị vỡ, nhưng nơi này lại có phương thức kinh doanh đi ngược lại

không khí đó.



Cạnh cầu thang cuốn từ tầng một lên tầng hai có khu để uống cà phê,

khách hàng có thể ngồi đây nghỉ ngơi giây lát. Một tiếng trước, Sasagaki đã ngồi ở một bàn mé ngoài nhìn xuống tầng một. Sau khi trời tối, lưu

lượng khách vẫn không hề giảm bớt. Ông cũng phải xếp hàng rất lâu mới

vào được, hiện giờ ngoài cửa vẫn còn một hàng dài người. Ngại nhân viên

trong tiệm khó chịu, Sasagaki gọi cốc cà phê thứ hai.



Ngồi đối diện với ông là một cặp đôi trẻ tuổi. Người ngoài nhìn vào,

có lẽ cho rằng đó là một đôi vợ chồng trẻ đi cùng ông bố. Chàng trai trẻ thấp giọng nói với ông. “Vẫn chưa thấy xuất hiện.”



“Ừm.” Sasagaki khẽ gật gật đầu, hai mắt vẫn liếc nhìn xuống dưới.



Cặp đôi trẻ tuổi này đều là sĩ quan cảnh sát của Osaka, chàng trai

còn là người thuộc ban điều tra. Sasagaki nhìn đồng hồ, thời gian mở cửa đã sắp hết.



“Giờ vẫn còn chưa biết được.” Ông lẩm nhẩm tự nói một mình.



Người bọn họ đang đợi đương nhiên chính là Kirihara Ryoji. Họ được

phép bắt giữ anh ta ngay khi phát hiện. Giai đoạn hiện tại vẫn chưa thể

truy nã, nhưng cần phải tạm giữ anh ta lại. Sasagaki là cảnh sát đã về

hưu, hiểu biết rất sâu về con người này, đến đây để hỗ trợ điều tra. Tất nhiên, chuyện này là do trưởng ban điều tra Koga sắp xếp.



Kirihara bị tình nghi giết người.



Khi Sasagaki trông thấy mảnh kính vỡ trong chậu cây xương rồng ở nhà

Shinozuka, một ý nghĩ liền loé lên trong đầu ông, đó chính là cách ăn

mặc của Matsuura Isamu lúc y mất tích. Có mấy nhân chứng khai rằng “Ông

ta thường đeo kính râm Rayban màu xanh lục.”



Sasagaki nhờ Koga điều tra về mảnh kính vỡ. Trực giác của ông chính

xác, đó đúng là mảnh kính từ một chiếc Rayban, vả lại bên trên còn sót

lại một dấu vân tay nhỏ, rất giống với vân tay của Matsuura mà cảnh sát

lấy được ở phòng y, tỷ lệ giống nhau đến chín mươi tám phần trăm.



Trong chậu bonsai tại sao lại có mảnh kính vỡ của Matsuura? Có thể

suy luận, hẳn là khi chủ nhân ban đầu của cây xương rồng là bà Karasawa

Reiko đổ đất vào chậu hoa, mảnh kính đã lẫn trong đất rồi. Vậy thì, đất

ấy từ đâu ra? Nếu không mua đất chuyên dùng để làm vườn, thì việc dùng

đất trong vườn nhà mình là suy đoán hợp lý nhất.



Nhưng muốn đào bới vườn nhà Karasawa cần có giấy phép lục soát. Chỉ

dựa vào chút chứng cứ mỏng manh ấy, thực sự rất khó để phán đoán có nên

đưa ra quyết định táo tợn như vậy hay không. Cuối cùng, trưởng ban điều

tra số 1 Koga đã đồng ý không do dự. Tuy hiện nay nhà Karasawa không còn ai cư trú cũng là một yếu tố lớn, nhưng Sasagaki cho rằng, Koga tin vào sự cố chấp của một cảnh sát già đã về hưu.



Cuộc lục soát được tiến hành ngày hôm qua. Trong sân nhà Karasawa, ở

chỗ sát mép tường có một khoảnh đất trống. Các điều tra viên giàu kinh

nghiệm không chút do dự đào bới từ đó.



Sau khi đào bới được hai tiếng, phát hiện ra một bộ xương trắng. Thi

thể không mặc quần áo, đã chết được bảy tám năm. Cảnh sát tỉnh Osaka đã

tìm đến Sở Nghiên cứu khoa học điều tra nhờ hỗ trợ xác nhận thân phận

người chết. Có đến mấy phương pháp, chí ít muốn chứng minh có phải là

Matsuura Isamu hay không chắc chắn không khó.



Sasagaki tin chắc người chết này chính là Matsuura, vì ông nghe được

chi tiết trên ngón tay út bàn tay phải của bộ xương có đeo một chiếc

nhẫn bạch kim. Ông có thể nhớ lại cảnh bàn tay đeo nhẫn của Matsuura cử

động như thể điều đó vừa mới diễn ra hôm qua.



Vả lại, trên tay phải của cái xác còn nắm một chứng cứ khác... trên

ngón tay đã hoá thành xương trắng có quấn mấy sợi tóc người, theo suy

đoán, đã được giật từ trên đầu đối phương xuống trong lúc ẩu đả.



Vấn đề là, liệu có thể khẳng định đó là tóc của Kirihara Ryoji hay

không. Trong tình huống bình thường, có thể dựa vào màu tóc, độ bóng, độ cứng, kích thước, chỉ số tuỷ, trạng thái phân bố của các hạt sắc tố,

nhóm máu... để phân biệt tóc của tất cả mọi người. Nhưng lần này, sợi

tóc được phát hiện đã rơi ra từ nhiều năm trước, vẫn còn chưa biết được

có thể xác định ở mức độ nào, nhưng đối với chuyện này, Koga sớm đã có

chuẩn bị từ trước.



“Nếu thật sự không được, thì phải nhờ đến Viện Nghiên cứu Khoa học Hình sự.” Anh đã nói như thế.



Có vẻ Koga nghĩ tới việc tiến hành giám định ADN. Phương pháp so sánh sự sắp xếp chuỗi ADN để phân biệt thân phận, khoảng một hai năm gần đây đã được sử dụng trong một số vụ án. Cục Cảnh sát đã lên kế hoạch trong

bốn năm tới sẽ đưa hệ thống này vào tất cả các cơ quan cảnh sát các cấp

trên toàn quốc, nhưng trước mắt vẫn do Viện Nghiên cứu Khoa học Hình sự

độc quyền phụ trách.



Sasagaki không thể không thừa nhận thời đại đã thay đổi. Vụ án mạng

chủ tiệm cầm đồ đã qua mười chín năm, thời gian làm tất cả đều biến

dạng, cả cách thức phá án cũng không ngoại lệ.



Nhưng mấu chốt nằm ở chỗ tìm ra được Kirihara Ryoji. Nếu không thể

bắt được anh ta, thì chỉ có bằng chứng suông cũng chẳng ý nghĩa gì.

Sasagaki đề nghị cấp trên triển khai giám sát Shinozuka Yukiho, vì cá

bống trắng luôn ở ngay bên cạnh tôm pháo. Đến giờ ông vẫn tin chắc như

thế. “Ngày cửa hàng đồ hiệu của Yukiho khai trương, Kirihara nhất định

sẽ xuất hiện. Việc mở cửa hàng ở Osaka có ý nghĩa đặc biệt với hai người bọn họ, vả lại, Yukiho cũng phải lo quản lý cửa hàng ở Tokyo, không thể thường xuyên đến Osaka được, họ nhất định sẽ không bỏ qua ngày khai

trương này đâu.” Sasagaki ra sức thuyết phục Koga.



Koga tán đồng ý kiến của người cảnh sát về hưu. Ngày hôm nay, từ lúc

cửa hàng mở cửa, đã có mấy nhóm nhân viên điều tra đổi nhau, liên tục

thay đổi địa điểm, duy trì giám sát R&Y. Sasagaki đã đồng hành với

các điều tra viên từ sáng sớm, khoảng một tiếng trước, ông vẫn còn ngồi

trong quán cà phê đối diện. Nhưng hoàn toàn không có vẻ gì là Kirihara

sẽ xuất hiện, ông bèn đi vào cửa hàng để quan sát.



“Hiện gờ Kirihara vẫn dùng cái tên Akiyoshi Yuichi phải không ạ?” Viên cảnh sát trẻ tuổi thấp giọng hỏi.



“Không biết, có thể là đã đổi rồi.” Sau khi trả lời, Sasagaki nhớ ra

chuyện này không liên quan lắm. Cái tên giả Akiyoshi Yuichi này... Ông

vẫn luôn cảm thấy dường như mình đã nghe cái tên này ở đâu rồi, rốt cuộc đến gần đây mới làm rõ được lý do.



Cái tên này ông nghe được từ cậu bé Kikuchi Fumihiko năm ấy.



Kikuchi Fumihiko bị cảnh sát nghi ngờ vì vụ án hiếp dâm, chính lời

chứng của Kirihara Ryoji đã trả lại cho anh sự trong sạch. Thế nhưng,

khi ấy tại sao anh ta lại bị nghi ngờ nhỉ? Là vì có người báo cảnh sát,

cái móc chìa khoá rơi ở hiện trường là của Kikuchi Fumihiko. Kikuchi

nói, kẻ “phản bội” ấy tên là Akiyoshi Yuichi.



Tại sao Kirihara lại chọn cái tên này là tên giả cho mình? Nguyên

nhân bên trong e rằng phải hỏi chính anh ta mới biết được, nhưng

Sasagaki lập luận theo cách của mình. Có lẽ Kirihara tự biết sự sinh tồn của mình được xây dựng trên cơ sở phản bội hết thảy mọi thứ, nên mới có suy nghĩ tự ngược đãi bản thân, tự xưng là Akiyoshi Yuichi. Nhưng việc

đã đến nước này, những chuyện đó đều không còn quan trọng nữa.



Sasagaki có thể tự tin là đã hiểu được lý do tại sao Kirihara lại cài bẫy Kikuchi. Bức ảnh trong tay Kikuchi rất bất lợi đối với Kirihara.

Nghe nói, trong tấm ảnh chụp Kirihara Yaeko và Matsuura Isamu hẹn hò với nhau. Nếu Kikuchi đem bức ảnh này cho cảnh sát xem, thì sẽ gây ra ảnh

hưởng thế nào? Cuộc điều tra có thể sẽ vì vậy mà triển khai trở lại.

Kirihara lo rằng sẽ mất đi chứng cứ ngoại phạm vào hôm xảy ra vụ án, bởi nếu Yaeko và Matsuura bận tư tình với nhau, vậy thì Kirihara sẽ ở một

mình một chỗ. Suy nghĩ một cách khách quan thì phía cảnh sát không thể

hoài nghi anh ta, khi ấy vẫn còn là học sinh cấp I, nhưng anh ta vẫn hy

vọng có thể che giấu chuyện đó. Tối qua, sau khi gặp Kirihara Yaeko,

Sasagaki càng tin vào suy luận của mình. Hôm đó, Kirihara Ryoji ở một

mình trên tầng hai, nhưng anh ta không hề ở đó suốt. Ở khu vực nhà dân

dày đặc như thế, cũng như kẻ trộm có thể dễ dàng đột nhập từ tầng hai,

muốn từ tầng hai ra bên ngoài thực sự không phải chuyện khó. Ryoji đã từ trên nóc nhà bám vào mép tường leo xuống, rồi lại men theo đường cũ trở về.



Trong khoảng thời gian đó anh ta đã làm gì?



Trong tiệm bắt đầu phát thông báo sắp đóng cửa, dòng người lập tức đổi hướng.



“Xem ra không được rồi.” Viên cảnh sát trẻ tuổi nói, nữ cảnh sát cũng bực bội đảo măt nhìn xung quanh.



Phía cảnh sát đã vạch ra các bước hành động, nếu như không phát hiện

Kirihara Ryoji, hôm nay sẽ chất vấn Shinozuka Yukiho. Nhưng Sasagaki

phản đối, ông cho rằng Yukijo sẽ không tiết lộ bất cứ thông tin nào trợ

giúp cho việc phá án. Cô ta ắt sẽ lộ vẻ kinh ngạc đủ để lừa gạt bất cứ

ai, mà nói, “Trong vườn nhà mẹ tôi phát hiện ra xương người? Thật không

thể nào tin nổi. Thế là thế nào?” Cô ta đáp như thế, cảnh sát sẽ làm

sao? Takamiya Makoto đã xác nhận là vào dịp tết của bảy năm trước khi

Matsuura bị giết, bà Karasawa Reiko nhận lời mời đến nhà Yukiho. Thế

nhưng, không có chứng cứ nào chứng minh giữa Yukiho và Kirihara có bất

cứ liên quan gì cả.



“Ông Sasagaki, ông xem...” Nữ cảnh sát lẳng lặng chỉ tay.



Đưa mắt nhìn về phía ấy, Sasagaki không khỏi trợn tròn mắt lên.

Yukiho đang chậm rãi bước trong cửa hàng, cô ta mặc một bộ vest trắng

tinh, trên gương mặt nở nụ cười có thể nói là hoàn mỹ. Đó không còn là

gương mặt xinh đẹp nữa, mà là ánh sáng tỏa ra từ cô ta, trong chớp mắt

đã thu hút tất cả ánh mắt của khách hàng và nhân viên xung quanh. Có

những người ngoảnh lại nhìn theo khi đã đi qua. Có những người thì thầm

với nhau. Cũng có những người không che giấu ánh mắt ngưỡng mộ.



“Đúng là một nữ hoàng.” Người cảnh sát trẻ thấp giọng nói.



Thế nhưng, trong mắt Sasagaki, Yukiho tựa như nữ hoàng ấy và một bóng hình khác đang xếp chồng lên nhau. Cô bé ông gặp trong căn hộ cho thuê

cũ kỹ, cô bé không có gì để dựa dẫm, không chịu mở rộng tấm lòng.



“Nếu biết được chuyện này sớm hơn một chút...” Câu ông nói với Yaeko tối qua lại vang lên trong óc.



Yaeko đã nói với ông chuyện đó từ năm năm trước, khi ấy bà ta đã khá say. Chính vì vậy, nên mới không giấu giếm gì.



“Giờ tôi mới dám nói, chuyện đó của ông chồng tôi chẳng ra gì cả. Kỳ

thực, ông ta vốn không phải như thế, sau này mới dần dần thay đổi. Ông

ta chạy theo một sở thích kỳ quặc... nên nói thế nào nhỉ? Cái đó gọi là

chứng ấu dâm đúng không? Có hứng thú với mấy đứa bé gái. Lại còn đi mua

một đống thứ ảnh quái dị ấy về nữa. Đống ảnh ấy à? Ông ta vừa chết, tôi

liền xử lý hết luôn, còn phải nói nữa hay sao?”



Những lời tiếp sau đấy của bà ta càng làm Sasagaki kinh ngạc hơn.



“Có một lần, Matsuura nói với tôi một chuyện rất kỳ quái. Anh ta kể,

ông chủ hình như đang mua con gái. Tôi hỏi anh ta mua con gái tức là thế nào, anh ta bảo, tức là bỏ tiền ra cho một đứa con gái còn rất nhỏ rồi

lên giường với anh ta. Tôi sợ hết cả hồn, bảo sao lại có người bán cái

đó. Matsuura cười tôi, nói bà chủ hồi trước rõ ràng xuất thân từ đó mà

ra, thế mà chẳng biết gì cả, thời buổi này, bố mẹ đều nhờ bán con gái mà sống qua ngày đấy.”



Nghe được chuyện này, trong đầu Sasagaki nổi lên một trận phong ba,

các dòng suy nghĩ đều trở nên hỗn loạn. Nhưng sau đó những gì không nhìn ra được trong quá khứ, lại hiện ra rõ mồn một như vừa xua tan được

sương mù.



Yaeko còn chưa nói hết.



“Không lâu sau, chồng tôi bắt đầu có một số hành vi quái dị khó hiểu. Ông ta chạy đi hỏi tay luật sư quen biết xem muốn nhận con người khác

về làm con gái nuôi cần phải làm những thủ tục gì? Khi tôi chất vấn ông

ta chuyện này, ông ta liền nổi giận đùng đùng, bảo chẳng liên quan gì

đến tôi cả. Vẫn chưa hết, ông ta còn đòi ly hôn với tôi nữa. Tôi nghĩ,

từ lúc ấy, đầu óc ông ta chắc đã có vấn đề rồi.”



Sasagaki cho rằng, đây chính là mấu chốt.



Kirihara Yosuke thường xuyên đến căn hộ của mẹ con nhà Nishimoto, mục đích không phải là Nishimoto Fumiyo, mà nhắm vào Nishimoto Yukiho. Chắc hẳn, ông ta đã nhiều lần mua thân thể cô bé, căn hộ cũ kỹ đó chính là

nơi dùng để tiến hành thứ giao dịch bệnh hoạn ấy.



Lúc này, đương nhiên Sasagaki nảy ra một nghi vấn.



Khách hàng phải chăng chỉ có một mình Kirihara Yosuke?



Terasaki Tadao chết vì tai nạn ô tô thì sao? Tổ chuyên án coi y là

tình nhân của Nishimoto Fumiyo, nhưng không ai có thể khẳng định

Terasaki không có sở thích biến thái giống như Kirihara Yosuke.



Tiếc là hiện giờ những điều ấy đều không thể chứng minh được nữa. Cho dù khi ấy vẫn còn khách làng chơi khác, cũng không biết tìm lại từ đâu.



Người duy nhất có thể xác định được, chỉ có Kirihara Yosuke.



Một triệu yên của Kirihara Yosuke, quả nhiên chính là số tiền giao

dịch đưa cho Nishimoto Fumiyo, số tiền ấy không phải để bà ta làm tình

nhân của Kiriahara Yosuke, mà là cái giá để nhận nuôi con gái bà ta. Hẳn là, sau mấy lần mua bán, ông ta hy vọng có thể chiếm lấy con gái bà ta

làm của riêng.



Yosuke đi rồi, Fumiyo ngồi lại một mình trên ghế xích đu công viên. Bà ta có đang vướng bận suy nghĩ nào không?



Sau khi nói chuyện với Fumiyo, Yosuke đến thư viện, để đón cô bé xinh xắn đã giành được trái tim mình. Quá trình xảy ra tiếp theo, Sasagaki

có thể hình dung rõ ràng. Kirihara Yosuke dẫn cô bé vào toà nhà đang xây dở. Có phải cô bé từng kháng cự? Sasagaki suy đoán, có lẽ là không.

Yosuke nhất định đã nói với cô thế này, “Ta đã trả một triệu yên cho mẹ

cháu rồi...”



Chỉ nội việc tưởng tượng trong căn phòng đầy bụi bặm đó đã xảy ra

chuyện gì cũng đủ khiến người ta thấy lộn mửa. Thế nhưng, nếu có người

nhìn thấy cảnh tượng đó thì sao chứ? Sasagaki không tin là Ryoji lúc đó

đang tình cờ chơi đùa trong hệ thống thông gió. Ryoji trốn khỏi nhà qua

lối cửa sổ tầng hai, hẳn là để đến thư viện. Có lẽ cậu ta thường làm vậy để gặp Yukiho, khoe với cô bé tài cắt giấy của mình. Duy chỉ có thư

viện ấy, mới là chốn nghỉ của hai trái tim thơ trẻ. Nhưng hôm đó, Ryoji

lại thấy một cảnh tượng kỳ dị bên cạnh thư viện. Bố cậu và Yukiho đi

cùng nhau. Cậu đi theo. Họ vào toà nhà ấy.



Hai người làm gì trong đó? Cậu bé cảm thấy một nỗi bất an vô hình

dâng lên. Muốn rình xem họ làm gì chỉ có một cách, cậu ta ngay lập tức

bò vào trong ống thông gió.



Vậy là, có thể cậu ta đã nhìn thấy cảnh tượng kinh khủng nhất kia.

Khoảnh khắc ấy, trong lòng cậu bé, ông bố đã trở thành một con dã thú

xấu xí và tàn ác. Chắc chắn cơ thể của cậu ta đã bị sự đau khổ và căm

phẫn chi phối. Đến giờ, Sasagaki vẫn nhớ rõ vết thương của Kirihara

Yosuke, đó cũng là vết thương trong lòng cậu bé. Giết chết bố mình xong, Ryoji để Yukiho chạy trước. Chất gạch sau cửa, hy vọng có thể nhờ vậy

mà ít nhiều kéo dài thời gian phát hiện ra vụ án mạng, có lẽ đó là tất

cả những gì mà trí óc cậu bé nghĩ được. Sau đó, cậu ta lại chui vào ống

thông gió. Hễ nghĩ đến tâm trạng cậu ta lúc bò trong ống thông gió của

toà nhà, Sasagaki lại thấy lòng đau như cắt.



Sau đó, hai người giao hẹn với nhau thế nào thì không thể biết được.

Sasagaki suy đoán, có lẽ không có chuyện giao hẹn gì cả, họ chỉ muốn bảo vệ linh hồn của mình mà thôi. Kết quả, Yukiho không bao giờ dùng gương

mặt thật để đối mặt với thế gian, Ryoji thì đến giờ vẫn đang luẩn quẩn

trong ống thông gió tăm tối. Động cơ trực tiếp khiến Ryoji giết

Matsuura, chắc là vì Matsuura giữ bí mật về chứng cứ ngoại phạm của anh

ta. Có lẽ, trong một dịp tình cờ, Matsuura phát hiện ra có thể Ryoji đã

phạm tội giết bố. Rất có thể y đã ngầm ám chỉ chuyện này với Ryoji, ép

anh ta tham gia vào hành động làm bản lậu của trò chơi điện tử lần đó.

Nhưng Sasagaki cho rằng, còn một động cơ nữa khiến Ryoji sát hại

Matsuura. Vì không ai có thể khẳng định chứng ấu dâm của Kirihara Yosuke có phải bắt nguồn từ chuyện Yaeko ngoại tình hay không. Trong căn phòng kín trên tầng hai ấy, Ryoji ắt hẳn đã vô số lần trông thấy chuyện xấu

xa của mẹ mình và Matsuura. Tất cả đều do tên đó hại bố mẹ mình phát

điên... anh ta có nghĩ vậy cũng không có gì là lạ.



“Ông Sasagaki, chúng ta đi thôi.”



Tiếng gọi của viên cảnh sát làm Sasagaki giật mình sực tỉnh, ông đưa

mắt nhìn quanh, trong quán cà phê đã không còn khách nào khác.



Vẫn không xuất hiện à...



Trong lòng ông không khỏi có cảm giác hụt hẫng. Sasagaki cảm thấy,

nếu hôm nay không tìm được Kirihara ở đây, sợ rằng sẽ không thể bắt được anh ta nữa. Nhưng dù sao cũng không thể ở lì đây mãi được. Đi thôi, ông chán nản nâng cơ thể nặng nề của mình đứng dậy. Ra khỏi quán cà phê, ba người cùng lên thang cuốn. Khách hàng đang túm năm tụm ba rời khỏi.

Nhân viên cửa hàng dường như rất hài lòng vì hoạt động ưu đãi ngày khai

trương đầu tiên đã thành công tốt đẹp. Ông già Noel đứng ngoài cửa phát

thiệp đang đi thang cuốn lên trên, thoạt nhìn ông ta cũng toát lên một

vẻ mệt mỏi nhưng vui sướng. Xuống khỏi thang cuốn, Sasagaki đảo mắt nhìn quanh trong cửa hàng, không thấy bóng dáng Yukiho đâu. Lúc này chắc cô

ta bắt đầu tính toán doanh thu ngày hôm nay rồi.



“Ông vất vả rồi.” Trước khi ra khỏi cửa hàng, viên cảnh sát trẻ khẽ nói.



“Đâu có gì.” Sasagaki trả lời, khẽ gật đầu. Sau này chỉ còn biết giao lại cho bọn họ mà thôi, giao lại cho thế hệ trẻ.



Sasagaki và những người khách khác cùng ra về. Đôi cảnh sát giả làm

tình nhân cũng nhanh chóng bước ra, đi về phía đồng nghiệp giám sát ở

một điểm khác. Có lẽ, tiếp sau đây bọn họ sẽ đi tìm Yukiho để phỏng vấn.



Sasagaki kéo áo khoác, nhấc chân bước đi. Trước mặt ông là hai mẹ con, bọn họ dường như cũng vừa mới từ R&Y đi ra.



“Món quà này hay quá nhỉ, để mang về khoe bố nhé.” Người mẹ nói với đứa con.



“Vâng ạ.” Cô bé chừng ba bốn tuổi gật đầu đáp, trên tay cô cầm thứ gì đó, đang khe khẽ phất phơ. Trong khoảnh khắc, Sasagaki mở to hai mắt.



Cô bé cầm một tờ giấy màu đỏ, cắt thành hình một con tuần lộc rất đẹp.



“Cái này... ở đâu ra vậy?” Sasagaki từ phía sau tóm lấy cánh tay cô bé.



Người mẹ lộ vẻ hoảng hốt, muốn bảo vệ con gái mình. “Có, có chuyện gì vậy?”



Cô bé dường như sắp sửa khóc oà lên đến nơi, người qua đường không ai không đưa mắt qua phía này.



“À! Xin lỗi. Cho tôi hỏi... cái này ở đâu ra vậy?” Sasagaki chỉ vào hình cắt giấy trên tay cô bé.



“Ở đâu ra chứ... được tặng ạ.”



“Tặng ở đâu?”



“Trong cửa hàng đó.”



“Ông già Noel.” Cô bé trả lời.



Sasagaki lập tức xoay người, chẳng buồn để ý đến đầu gối đau nhức vì

giá lạnh, ông dốc hết sức chạy như điên. Cửa hàng đã bắt đầu đóng cửa,

nhưng các cảnh sát vẫn ở gần đó chưa ra về. Nhìn thấy bộ dạng của

Sasagaki, tất cả đều biến sắc mặt.



“Có chuyện gì vậy ạ?” Một người trong bọn họ hỏi.



“Ông già Noel!” Sasagaki hét lớn. “Chính là hắn ta!”



Các cảnh sát lập tức hiểu ra, liền mở cánh cửa kính đang đóng lại,

xông vào bên trong, bất chấp các nhân viên ra sức ngăn cản, giẫm lên

chiếc thang cuốn đã ngừng hoạt động lao lên trên tầng. Sasagaki vốn định xông lên theo bọn họ, nhưng trong đầu ông lại tức khắc nảy ra một ý

nghĩ khác. Ông rẽ ngoặt vào con ngõ nhỏ bên cạnh toà nhà.



Ngu thật! Mình đúng là quá ngu xuẩn! Mình đuổi theo cậu ta bao nhiêu

năm rồi! Không phải cậu ta luôn bảo vệ Yukiho từ nơi không ai nhìn thấy

hay sao? Vòng ra sau toà nhà, Sasagaki nhìn thấy một cầu thang gắn tay

vịn bằng sắt, bên trên có một cánh cửa. Ông leo lên cầu thang, mở cửa

ra. Trước mắt ông là một người đàn ông đang đứng, một người mặc đồ đen.

Đối phương dường như cũng bất ngờ vì có người đột nhiên xuất hiện trước

mặt. Đây quả là một khoảng thời gian kỳ lạ. Sasagaki lập tức hiểu ra

người trước mặt mình chính là Kirihara Ryoji. Nhưng ông không hề nhúc

nhích, cũng không lên tiếng, đầu óc bình tĩnh đưa ra phán đoán: thằng

nhãi này cũng đang nghĩ xem mình là ai.



Thế nhưng, khoảng thời gian ấy có lẽ chỉ kéo dài chưa được một giây. Người kia đã xoay người, chạy theo hướng ngược lại.



“Đứng lại!” Sasagaki đuổi sát không buông.



Xuyên qua hành lang là khu vực bán hàng. Các cảnh sát đã xuất hiện,

Kirihara dốc toàn bộ sức lực lao vào giữa các giá hàng bày toàn hộp với

thùng. “Chính là hắn ta!” Sasagaki hét lớn. Các cảnh sát lập tức đuổi

theo. Chỗ này là hầng hai. Kirihara đang chạy về phía chiếc thang cuốn

đã ngừng hoạt động, Sasagaki tin rằng anh ta không thể thoát thân được

nữa.



Nhưng Kirihara không chạy lên cầu thang, mà dừng lại, không chút do

dự tung mình nhảy xuống tầng một. Bên tai vang lên tiếng hét của nhân

viên cửa hàng, tiếng đổ vỡ vang lên liền sau đó, tựa như cú va đập đã

làm hỏng mất thứ gì đó. Mấy cảnh sát lao xuống cầu thang như bay.



Sasagaki cũng đã đến chỗ cầu thang. Trái tim không chịu nổi nữa, ông ấn vào lồng ngực đang đau nhói, chầm chậm đi xuống.



Cây thông Noel khổng lồ đã đổ xuống, bên cạnh chính là Kirihara

Ryoji. Anh ta nằm sóng soài, hai tay hai chân choãi ra, không nhúc

nhích. Một viên cảnh sát lại gần, định kéo anh ta dậy, nhưng ngừng lại

ngay sau đó, ngoảnh đầu nhìn Sasagaki.



“Sao vậy?” Sasagaki hỏi. Không có câu trả lời.



Sasagaki bước đến gần, định xoay gương mặt Kirihara lên. Lúc này, tiếng hét lại vang lên lần nữa.



Có thứ gì đó cắm trên ngực Kirihara, vì máu tươi phun ra như suối nên khó nhận ra được, nhưng Sasagaki chỉ thoáng đã biết ngay. Đó chính là

chiếc kéo mà Kirihara coi như báu vật, chiếc kéo đã thay đổi cả cuộc đời anh ta!



“Mau đưa tới bệnh viện!” Có người hét lên, rồi tiếng bước chân chạy

sầm sập lại vẳng tới. Sasagaki hiểu, chẳng ích gì nữa, ông đã nhìn xác

chết quen rồi. Cảm giác xung quanh có người, Sasagaki ngẩng đầu lên.

Yukiho đứng ngay cạnh ông, gương mặt trắng muốt như tuyết đang cúi nhìn

Kirihara.



“Người này... là ai?” Sasagaki nhìn vào mắt cô ta.



Gương mặt Yukiho vô cảm, tựa như ma nơ canh. Cô ta lạnh lùng trả lời. “Tôi không biết. Việc thuê lao động thời vụ toàn bộ đều do cửa hàng

trưởng phụ trách.”



Lời vừa mới dứt, một cô gái trẻ liền xuất hiện bên cạnh. Sắc mặt cô

tái mét, cất giọng yếu ớt. “Tôi là cửa hàng trưởng Hanamoto.”



Cảnh sát bắt đầu hành động. Người thực hiện các biện pháp bảo vệ hiện trường, người chuẩn bị thẩm vấn cửa hàng trưởng, người vỗ lên vai

Sasagaki, mời ông rời xa cái xác. Sasagaki loạng choạng ra khỏi vòng vây của cảnh sát. Chỉ thấy Yukiho đang vịn cầu thang đi lên tầng, bóng lưng cô ta tựa như một bóng ma màu trắng.



Yukiho không ngoảnh đầu lại, dù chỉ một lần.



>>>Hết<<<